|





|
|
Câu Chuyện Thầy Lang
“Giết nhau chẳng cái lưu cầu,
Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa”(1)
Ðó là lời cay đắng than thân trách phận của người cung nữ bị đấng quân vương
phế bỏ mà trở nên héo hon, chết dần mòn trong buồn rầu, sầu tủi...
Trong cộng đồng người Việt mình, buồn rầu trầm cảm là bệnh khá phổ biến,
nhưng lại ít được nhận ra và điều trị. Tại sao?
Xin mời quý thân hữu đọc bài viết rất đầy đủ về bệnh Trầm Cảm sau đây của
bác sĩ Thái Minh Trung, một thầy thuốc có huấn luyện chuyên môn về bệnh Tâm
Thần. Bác sĩ Trung đang hành nghề tai tiểu bang California và cũng đã viết
nhiều bài giá trị, dễ hiểu về lãnh vực tâm linh, tình cảm.
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Có phải bịnh trầm
cảm là bịnh tâm thần hay không?
Thái Minh Trung, M.D.
Những con số thống kê.
Các nghiên cứu của Hội Y Tế Thế giới (World Health Organization) tiên đoán
rằng tới năm 2020 thì bịnh trầm cảm sẽ trở thành căn bịnh thứ nhì dẫn đến
khiêm khuyết (disability) trên toàn thế giới và căn bịnh thứ nhứt dẫn đến
khiêm khuyết ở những nước đang phát triển.
Bịnh trầm cảm là một bịnh rất phổ biến. Cứ 100 người có đến 10 người bị bịnh
này và xác suất bị bịnh này trong đời người (lifetime prevalence) có thể đến
15%. Hiện thời chưa có những thống kê bịnh trầm cảm ở người Việt Nam. Có
nhiều nghiên cứu cho thấy rằng cuộc sống gây căng thẳng tinh thần hay những
biến cố khủng hoảng trong cuộc sống là nguyên nhân gây bịnh trầm cảm.
Theo kinh nghiệm lâm sàng của tác giả thì bịnh trầm cảm xảy ra ở người Việt
Nam có xác suất cao hơn người Mỹ bản xứ. Lý do là đa số người Việt Nam sống
ở hải ngoại là người tị nạn và họ đã trải qua rất nhiều biến cố khủng hoảng
trong đời sống. Những khủng hoảng đó là chiến tranh Việt Nam, tù cải tạo,
thuyền nhân vượt biển, nhiều khó khăn đáp ứng với văn hóa nước ngoài và đời
sống kinh tế không tốt đẹp.
Ta có thể ước lượng rằng xác suất của thế hệ thứ nhứt, sanh trưởng tại Việt
Nam và di tản định cư ở ngoại quốc, bị trầm cảm có thể gấp 2 hay 3 lần người
bản xứ. Ðó là thế hệ đã trải qua rất nhiều biến cố khủng hoảng như đã kể
phần trên. Một số người vì mưu sinh sống còn đã vượt qua được những triệu
chứng trầm cảm lần đầu tiên. Nhưng vài năm sau đó, hệ thống thần kinh bị suy
nhược sẵn, chỉ với một biến cố nhẹ hơn trong cuộc sống (thí dụ như xích mích
vợ chồng hoặc con cái, rời nhà sống riêng) cũng có thể gây ra bịnh trầm cảm
nặng.
Thế hệ thứ 1.5, sinh tại Việt Nam di tản và định cư theo cha mẹ ở nước ngoài
lúc còn nhỏ, cũng có những căng thẳng riêng của họ. Ðó là những mâu thuẫn về
nguồn gốc của mình. Họ không hẳn là người Việt cũng không hẳn là người bản
xứ hoàn toàn nên có nhiều khó khăn trong việc đáp ứng kết hợp văn hóa bản xứ
với văn hóa của gia đình. Nếu theo phong tục của bạn thì về nhà phụ huynh
không vừa lòng, còn theo phong tục gia đình thì khó đáp ứng được với bạn bè
cùng trang lứa.
Những dấu hiệu của bịnh trầm cảm.
Người Á Châu ít chịu công nhận những triệu chứng của bịnh trầm cảm vì những
lý do văn hóa. Hiện thời có rất nhiều sự hiểu lầm về bịnh trầm cảm. Xã hội
tin rằng những người bị trầm cảm là những người lười biếng với ý chí bị suy
kém. Người ta còn tin rằng bịnh trầm cảm là một bịnh tưởng tượng vì bác sĩ
gia đình không tìm được nguyên do thể chất của những triệu chứng đau nhức
của bịnh trầm cảm. Một số khác nghĩ rằng bịnh nhân trầm cảm có “tánh xấu” vì
họ hay bực bội cau có gây gổ với mọi người.
Bịnh trầm cảm không giống như bịnh cảm, ta ngủ một đêm sáng thức dậy thấy
mệt mỏi và nghẹt mũi. Bịnh trầm cảm xảy ra rất chậm cho nên đôi lúc bịnh
nhân không nhìn ra được những dấu hiệu của nó vì những triệu chứng trầm cảm
tăng từ từ. Ðến lúc bịnh trầm cảm trở thành nặng, người bịnh không đi làm
được hay không sinh hoạt gia đình bình thường thì mới tìm bác sĩ để trị
bịnh.
Vì những lý do trên mà những bịnh nhân Á châu khi khai những triệu chứng
trầm cảm, họ ít khi chịu khai những triệu chứng tâm lý mà liệt khai những
triệu chứng thể xác, đánh lạc hướng chẩn đoán của bác sĩ gia đình. Theo cách
chẩn đoán của khoa tâm thần thì hai triệu chứng chính để chẩn đoán trầm cảm
là: buồn chán (depression) và mất sự thích thú trong đời sống (anhedonia).
Những triệu chứng này ít thấy những bịnh nhân Á châu than phiền. Nếu có than
phiền về sự mất thích thú thì họ hay ghép vào đó một nguyên nhân chính đáng
như cơ thể bị đau nhức kinh niên chẳng hạn. Vì thế một số đông bịnh nhân Á
châu không được chẩn đoán và trị liệu đúng mức.
Những triệu chứng trầm cảm thường được thấy ở những bịnh nhân Á châu là
những cơn đau nhức bất thường, giấc ngủ bị thay đổi (mất ngủ hay ngủ li bì),
người hay mệt kinh niên, xáo trộn trong khẩu vị (ít ăn, xuống cân), hay
quên, không chăm chú được, người hay “tự ái” dễ bị bực bội (irritability).
Ngay cả triệu chứng bực bội cũng được che đậy qua những lý do như những căng
thẳng ở sở làm, con cái không vâng lời, người hôn phối không đối xử tốt với
mình. Chính vì thế mà khi mới nghe bịnh nhân kể lể, bác sĩ gia đình ít khi
nghĩ đến bịnh trầm cảm. Thật ra những căng thẳng trong cuộc sống ai cũng có
nhưng đối với người bị trầm cảm căng thẳng được cảm nhận nhiều hơn bình
thường.
Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng khoảng 60% bịnh nhân trầm cảm bị đau nhức
trong người. Gần 1/3 (30%) bịnh nhân đau kinh niên bị bịnh trầm cảm. Ở nước
Mỹ, hàng năm có khoảng 400 triệu lần khám bác sĩ (clinic visits) thì gần
phân nửa là vì đau nhức. 90% những bịnh nhân có những triệu chứng tâm lý
được chẩn đoán đúng mức. Nhưng chỉ có 50% bịnh nhân trầm cảm có triệu chứng
thể xác chỉ được bác sĩ gia đình chẩn đoán và nhận ra bịnh trầm cảm. Nếu
những bịnh nhân này có kèm theo những bịnh về thể xác thì xác xuất bịnh trầm
cảm nhận ra chỉ có 20% mà thôi (2).
Theo cách chẩn đoán của khoa tâm thần thì chỉ cần 2 tuần lễ có những triệu
chứng trầm cảm kể trên thường xuyên ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình và xã
hội là hội đủ điều kiện của bịnh trầm cảm. Tuy nhiên trên thực tế, bịnh nhân
chờ đợi rất lâu, cả tháng, có khi cả năm trời, mới chịu đi khám bác sĩ. Thời
gian chần chờ chữa trị lâu hơn ở bịnh nhân Á châu vì họ rất sợ bị gán cho
cái bịnh tâm thần (mental illness). Khi chần chờ lâu thì hệ thống thần kinh
bị suy thoái nhiều gây rắc rối cho việc chữa trị. Ngoài ra khi bịnh trầm cảm
trở nên nặng thì bịnh nhân thường có những ý nghĩ chán đời, không muốn sống
và thậm chí có ý định tự tử.
Bịnh trầm cảm có cơ sở thần kinh học (neurology)
Các nghiên cứu chụp hình não mới nhất cho thấy rằng bịnh trầm cảm không phải
là một bịnh “tưởng tượng” vì nó gây ra rất nhiều biến đổi trong sự hoạt động
của não bộ. Những cơ cấu thần kinh (brain structures) và mạch thần kinh
(neural circuits) điều hòa những triệu chứng căng thẳng thể xác được dùng
chung với bịnh trầm cảm. Chính vì thế mà khi bị trầm cảm, bịnh nhân có nhiều
triệu chứng thể xác lẫn tâm lý. Cái khác biệt là bịnh nhân Á châu loại ra
những triệu chứng tâm lý, chỉ khai báo với bác sĩ những triệu chứng thể xác.
Những nghiên cứu chụp hình bằng PET scan hay MRI cho thấy rằng khi bị trầm
cảm, hệ thống limbic (limbic system) hoạt động quá độ từ đó sinh ra những
triệu chứng căng thẳng tinh thần như cau có, lo âu phiền não, mất ngủ... Hệ
thống cortex (cortical system) hoạt động yếu, sinh ra những triệu chứng như
thiếu sự chăm chú, mất khả năng suy xét, mất sự nhậy bén lanh lẹ... Khi bịnh
trầm cảm được điều trị thì những mất quân bình kể trên được đổi chiều và
quân bình trở lại.
Khi bị trầm cảm lâu ngày, sự căng thẳng thường xuyên sẽ tạo ra quá nhiều
kích thích tố (glucocorticoids) làm giảm những chất nuôi dưỡng tế bào thần
kinh (Brain derived nerve growth factor-BDNF). Khi glucocorticoids tăng và
BDNF giảm thì sẽ làm hư hỏng một số tế bào thần kinh. Nhóm tế bào thần kinh
kết cấu hippocampus rất nhậy cảm với glucocorticoids. Khi tế bào chết dần,
cấu trúc này bị thoái hóa (atrophy). Hippocampus rất quan trọng trong việc
thành lập trí nhớ ngắn hạn. Vì thế khi bị stress hay trầm cảm lâu ngày không
trị liệu thì trí nhớ sẽ bị ảnh hưởng xấu. Khi lạm dụng xì ke ma túy cũng có
tác động tương tự lên hippocampus.
Nguy cơ của bịnh trầm cảm không được điều trị đúng mức
Có rất nhiều nguy cơ xảy ra khi bịnh trầm cảm không được điều trị đúng mức.
Nguy cơ ở cá nhân thì như đã kể ở phần trên là khi bị căng thẳng (stress)
lâu ngày thì sẽ làm hư hỏng nhiều phần của não bộ. Mới đầu ta chỉ thấy xáo
trộn trong sự phân phối hoạt động của các vùng trong não bộ, như vùng limbic
hoạt động quá độ còn vùng cortex hoạt động kém hơn. Ðể lâu, sự mất quân bình
này dẫn đến xáo trộn về chất thần kinh giao nối (neurotransmitter imbalance)
và sau đó dẫn đến xáo trộn về nội tiết (endocrine imbalance). Khi nội tiết
bị xáo trộn thì hiện nay chưa có cách trị hữu hiệu vì khoa học chưa phát
minh ra thuốc trị nội tiết mất quân bình.
Bịnh trầm cảm ảnh hưởng xấu đến các bịnh thể xác khác một cách gián tiếp và
trực tiếp. Căng thẳng của chứng trầm cảm làm bịnh nhân cảm thấy đau nhức
nhiều hơn người không bị trầm cảm. Khi uống thuốc thì họ bị phản ứng phụ
nhiều hơn vì sự căng thẳng làm giảm sự chịu đựng của cơ thể, do đó mà các
bịnh khác không được trị đúng mức. Khi bị trầm cảm nặng, bịnh nhân bị chán
chường nên bỏ bê việc uống thuốc thường xuyên, không tập thể dục và ăn uống
bất thường làm các bịnh như tiểu dường hay cao huyết áp nặng hơn. Ngoài ra
trầm cảm cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống miễn nhiễm (immune system),
các bịnh tim mạch, đường ruột, hô hấp bằng cách làm triệu chứng của các bịnh
này nặng hơn.
Ở nam giới, bịnh trầm cảm không được chữa trị sẽ dễ dàng dẫn đến lạm dụng
rượu, hút thuốc và xì ke ma túy. Sự nghiện ngập hút xách sẽ làm bịnh trầm
cảm nặng hơn. Nó sẽ dẫn đến sự sụp đổ gia đình rất nhanh. Nhiều nghiên cứu
cho thấy sự bạo hành gia đình tăng lên với người bị trầm cảm. Nguy cơ tử
vong khi tự tử rất cao ở nam giới bị trầm cảm. Nguy cơ này cao hơn nếu bịnh
nhân trầm cảm hút xách và mất tự chủ. Ngoài ra còn có nguy cơ làm hại sinh
mạng kẻ khác, giết con cái hay người hôn phối của mình.
trong lúc say rượu và tuyệt vọng.
Về gia đình thì người bịnh trầm cảm bỏ bê sinh hoạt gia đình, thích ở trong
phòng một mình, hay gây gổ với người thân, họ bị tự ái quá độ, tình cảm mất
quân bình, dễ la lối khóc lóc vì thế mà quan hệ gia đình rất căng thẳng. Một
số người mất sự thích thú tình dục, không thích chưng diện, không chăm sóc
người phối ngẫu, làm quan hệ hôn nhân bị lung lay. Nếu là phụ huynh thì sự
chăm sóc con cái bị suy giảm, khiến người phối ngẫu phải làm việc nhiều hơn,
đó cũng là một nguyên nhân đưa đến sự xung đột trong gia đình. Phụ huynh bị
trầm cảm không dằn được cơn bực bội hay la mắng thậm chí đánh đập con cái
rồi sau đó họ bị mặc cảm tội lỗi dày vò. Nguy cơ ly dị ở người bị trầm cảm
cao hơn bình thường.
Người bịnh trầm cảm không đáp ứng được với những nhu cầu của công việc. Họ
dễ bị căng thẳng khi bị đồng nghiệp hay chủ sở phê bình. Họ làm việc chậm
hơn người thường vì thiếu chăm chú và hay quên. Họ hay mất ngủ và sáng vào
sở uống cà phê thật nhiều. Lạm dụng cà phê sẽ làm cơ thể căng thẳng hơn và
sau đó họ sẽ lâm vào trường hợp mệt mỏi và hay bị lo âu quá độ. Lâu ngày
tinh thần sẽ sa sút nhiều hơn và những căn bịnh thể xác như nhức mỏi, nhức
đầu sẽ càng ngày càng gia tăng. Ðến mức độ nào đó họ sẽ mất khả năng làm
việc hữu hiệu và bị đuổi sở. Khi mất việc làm thì bịnh trầm cảm sẽ qua giai
đoạn nặng, có nguy cơ tự tử.
Nói tóm lại những cảnh địa ngục trần gian sẽ tránh được khi bịnh trầm cảm
được chẩn đoán và điều trị đúng mức.
Cách phòng ngừa và trị liệu bịnh trầm cảm
Bịnh trầm cảm không phải lúc nào cũng phải được trị bằng thuốc men. Ta có
thể thay đổi cuộc sống và lối suy suy nghĩ để tránh bịnh trầm cảm trở thành
nặng. Một số người khi thay đổi cách suy nghĩ và lối sống thì căng thẳng
(stress) giảm đáng kể, từ đó mà các triệu chứng trầm cảm bớt đi và có thể
hết. Thí dụ như giảm công việc lại, làm ít giờ hơn, có nhiều thời gian sinh
hoạt với gia đình, giành nhiều thời giờ đối thoại với người phối ngẫu để san
bằng cái hố hiểu lầm. Nếu là sinh viên thì giảm số giờ học (units), tăng
thời gian nghỉ ngơi và ăn ngủ điều độ. Tránh lạm dụng cà phê hay rượu. Tập
thể dục thể thao cũng có khả năng làm giảm trầm cảm. Tập thể thao thường
xuyên sẽ làm tăng chất BDNF, giúp tế bào thần kinh sống lâu hơn.
Tìm hiểu tôn giáo để học hỏi những cách sống cho tâm hồn thư thảng cũng là
một cách phòng ngừa trầm cảm. Nhiều nghiên cứu cho thấy tâm tĩnh lặng
(mindfulness) rất hữu hiệu để trị lo âu và trầm cảm. Khi suy nghĩ lo âu
nhiều quá thì ta tạo căng thẳng cho hệ thần kinh. Khi hệ thần kinh làm việc
quá độ thì sẽ gây ra những triệu chứng lo âu và mất trí nhớ. Tâm tĩnh lặng
tạo ra những thay đổi tốt cho não bộ và được thể hiện qua sơ đồ điện não
(EEG) và chụp hình PET scan. Căng thẳng kinh niên sẽ gây ra bịnh trầm cảm.
Tinh thần cạnh tranh, hơn thua tạo ra rất nhiều căng thẳng và không thích
hợp với bịnh trầm cảm. Nếu người có di truyền trầm cảm, căng thẳng sẽ làm
trầm cảm phát triển sớm hơn. Những pháp môn tôn giáo như niệm Phật, cầu
nguyện Chúa, hay thiền là những cách gián tiếp hay trực tiếp dẫn đến tâm
tĩnh lặng.
Tâm lý học có những phương pháp tâm lý trị liệu như tâm lý trị liệu nâng đỡ
(supportive therapy), tâm lý trị liệu nhận thức và hành động (cognitive
behavioral therapy) để giúp người bị trầm cảm vượt qua những cơn khủng hoảng
tinh thần và giúp họ hội nhập vào gia đình và xã hội. Tâm lý trị liệu dùng
tâm tĩnh lặng (mindful therapy) rất thành công ở bịnh nhân bị cả ung thư lẫn
trầm cảm. Trong bịnh trầm cảm nặng, tâm lý trị liệu phối hợp với dược phẩm
công hiệu hơn là trị thuốc một mình.
Nói về cách trị liệu bằng thuốc thì hiện nay nhóm thuốc làm tăng Serotonin
(Selective Serotonin Reuptake Inhibitor- SSRI) rất phổ biến trong việc trị
liệu bịnh trầm cảm. Nhóm thuốc này gồm có Fluoxetine (Prozac), Paroxetine
(Paxil), Sertraline (Zoloft), Citalopram (Celexa) và Escitalopram (Lexapro).
Những loại thuốc trên có thể đều có công dụng bằng nhau nhưng khác về phản
ứng phụ. Tùy theo triệu của chứng của bịnh nhân mà bác sĩ chọn lựa thuốc
thích hợp. Ngoài ra còn có nhóm thuốc ảnh hưởng Serotonin và Norepinephrine
(Serotonin-Norepinephrine reuptake inhibitor- SNRI). Nhóm thuốc này gồm có
Venlafaxine (Effexor) và Duloxetine (Cymbalta). Còn nhiều thuốc nữa mà không
tiện liệt kê ra hết. Càng ngày càng có nhiều loại thuốc mới, nên việc trị
liệu bịnh trầm cảm tương đối hữu hiệu hơn trước đây.
Những điều cần quan tâm khi trị bịnh trầm cảm bằng thuốc
Nhiều nghiên cứu thuốc trầm cảm ở trẻ em cho thấy rằng loại thuốc này có thể
tăng ý muốn tự vận, nhưng chưa có trường hợp hoàn tất tự tử (suicide
completion). Số lượng rủi ro này rất nhỏ, tuy nhiên FDA vẫn ra thông báo để
cho các bác sĩ đề phòng. Các nhà nghiên cứu cho rằng một số trẻ có ý muốn tự
vận bị chẩn đoán lầm. Những em này có thể bị bịnh tình cảm lưỡng cực
(bipolar affective disorder), khi uống thuốc trầm cảm, trong người thấy bứt
rứt khó chịu hay bực bội nhiều hơn mà không tự chủ được. Các giai đoạn mà
bác sĩ cần theo dõi bịnh nhân kỹ là lúc khởi đầu uống thuốc và khi điều
chỉnh thuốc với liều cao hơn. Nếu bịnh nhân uống thuốc trầm cảm mà cảm thấy
khó chịu, có những cơn vui quá độ (mania), cảm thấy năng lực tăng thật
nhiều, không cần ăn và ngủ, thì nên dừng thuốc và thông báo bác sĩ tức thời.
Nói chung, thuốc trị trầm cảm rất an toàn.
Tóm lại
Bịnh trầm cảm không phải là một bịnh tưởng tượng như người ta thường nghĩ.
Người bịnh trầm cảm không thể dùng ý chí để vượt qua căn bịnh này mà cần
phải được trị liệu đúng cách. Bịnh này cũng không chỉ là bịnh tâm thần vì nó
có nhiều triệu chứng về thể xác. Bịnh trầm cảm có cơ sở thần kinh và sinh lý
học (Neurobiology). Nếu không trị đúng mức, bịnh này sẽ gây tai hại cho cuộc
sống cá nhân, gia đình và xã hội.
Bác sĩ Thái Minh Trung, M.D.
California-Hoa Kỳ
(1)-Cung Oán Ngâm Khúc- Nguyễn Gia Thiều
(2)-Kroenke K. Underdetection and inadequate treatment of physical symptoms
of depression: the real barriers to remission. Program and abstracts of the
American Psychiatric Association 2004 Annual Meeting; May 1-6, 2004; New
York, NY. Symposium 19A.
|
|