y

học

thường

thức

Home | Up | thay lời tựa | trang chủ | liên lạc | giúp đở kỹ thuật | tác phẩm mới | danh ngôn thế giới | tuổi đời | thơ hoàng thuận dũng | nhạc nguyễn thiện doãn | văn hoàng thuận dũng | tài liệu | lưu bút | tác giả bốn phương | bốn phương | Câu Lạc Bộ Âm Nhạc | trang bạn

nguyễn văn đức

y khoa thường thức       

 

y khoa thường thức

 

y khoa thường thức

 

y khoa thường thức

 

y khoa thường thức

 

y khoa thường thức

 

 

 

 

BỆNH HẸP TẮC ÐỘNG MẠCH TIM
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức
(Bài trên Website www.hqtysvntd.org)

 


 

Tin cựu Tổng Thống Clinton suýt bị

"heart attack" khiến cả nước Mỹ quan

tâm. Cũng may, cuộc mổ thay các động

mạch tim cho ông Clinton đã diễn ra

suôn sẻ.

Bệnh hẹp tắc các động mạch dẫn

máu đến nuôi tim (coronary artery

disease), kẻ thù số một của người dân

Mỹ, giết người nhiều nhất, gây ra

550.000 cái chết mỗi năm. 7% số người

ở Mỹ bị bệnh hẹp tắc động mạch tim,

nhất là sau tuổi 55. Chi phí y tế hàng

năm riêng cho bệnh này lên đến 8 tỉ mỹ

kim.

Chúng ta biết, con tim tối quan trọng,

bơm máu đi nuôi mọi bộ ph?n cơ thể.

Nhưng chính tim cũng cần máu nuôi,

cung cấp bởi các động mạch chạy vòng

quanh tim (coronary arteries), đem

dưỡng khí (oxygen) đến cho tim. Khi

lòng các động mạch này hẹp hoặc tắc,

tim sẽ có vấn đề.

Cơ chế nào tạo nên căn bệnh được

xem giết người hàng loạt này? Đầu tiên,

lòng một hay nhiều động mạch dẫn máu

đến nuôi tim, do lý do nào đó, như cao

 

áp huyết chẳng hạn, đâm tổn thương.

Chỗ tổn thương là một nơi tốt để các chất

mỡ, cùng các tế bào tiểu cầu (platelet)

luôn luôn có sẵn trong máu bám vào. Sự

kiện này lại gây nhiều phản ứng liên

tiếp, làm hư hoại thêm chỗ tổn thương,

chỗ này càng lúc càng dầy thêm. Lòng

của động mạch chỗ tổn thương hẹp dần,

tim thiếu máu đến nuôi. Khi thiếu máu

nuôi trầm trọng, một phần tim sẽ hư hoại

cấp tính (gọi nôm na "heart attack").

Nếu 40% tim hư hoại vì thiếu máu nuôi,

ta khó hy vọng sống sót.

Ai dễ bị bệnh hẹp tắc động mạch

tim? Theo Chương Trình Giáo Dục Quốc

Gia về vấn đề Cholesterol (National

Cholesterol Education Program), người

có những yếu tố nguy hại sau dễ mang

bệnh hơn người khác:

1. Lượng mỡ cholesterol xấu (LDL)

trong máu cao:

Cholesterol giữ vai trò quan trọng

trong sự cấu tạo và biến dưỡng nhiều

chất căn bản của. Bình thường,

cholesterol tổng cộng (total cholesterol)

dưới 200 mg/dl.

 

o0o

 

Cholesterol tổng cộng chia làm 2 loại

chính: Low density lipoprotein (viết tắt

LDL) và High density lipoprotein (viết

tắt HDL). LDL là loại cholesterol xấu,

lắng đọng vào lòng các động mạch tim,

thủ phạm chính gây bệnh hẹp tắc động

mạch tim. LDL càng cao càng nguy

hiểm. Dùng các phương pháp chữa trị

(ăn kiêng, vận động, uống thuốc nếu

cần) làm giảm cholesterol tổng cộng và

cholesterol xấu sẽ làm giảm nguy cơ bị

bệnh hẹp tắc động mạch tim.

2. Lượng mỡ Cholesterol tốt (HDL)

thấp hơn bình thường:

Ngược lại, HDL, người bạn tốt, là xe

chuyên chở các chất cholesterol xấu từ

các cơ quan trong cơ thể về thải ở gan.

Cholesterol tốt càng cao, càng tốt. Bình

thường, cholesterol tốt cần trên 40 mg/dl.

Cholesterol tốt nếu dưới 40 mg/dl sẽ dễ

khiến chúng ta bị bệnh hẹp tắc động

mạch tim. Vận động đều có thể làm tăng

cao lượng cholesterol tốt trong máu.

Chương Trình Giáo Dục Quốc Gia về

vấn đề Cholesterol đề nghị cholesterol

tổng cộng (total cholesterol) và

cholesterol tốt (HDL) nên bắt đầu được

theo dõi ngay từ tuổi 20. Nếu bình

thường, thử lại mỗi 5 năm.

3. Tuổi tác:

Đàn ông trên 45 tuổi và phụ nữ trên

55 tuổi dễ mang bệnh hơn lúc còn trẻ.

4. Yếu tố gia đình:

- Đàn ông: nếu có bố mẹ hay anh em

ruột bị “heart attack” hoặc chết bất đắc

kỳ tử (sudden death) trước tuổi 55.

- Đàn bà: nếu có bố mẹ hay anh em

ruột bị heart attack hoặc chết bất đắc kỳ

tử trước tuổi 65.

5. Thuốc lá:

 

Hiện nay, vai trò của thuốc lá trong

bệnh hẹp tắc động mạch tim không còn

nghi ngờ gì nữa. Chắc chắn người hút

thuốc lá sẽ dễ mang bệnh hơn người

không hút.

6. Cao áp huyết:

Bệnh cao áp huyết (áp huyết 140/90

trở lên) là một yếu tố nguy hại rất mạnh

đưa đến các chứng bệnh tim mạch, trong

đó có bệnh hẹp tắc động mạch tim và tai

biến mạch máu não (stroke).

7. Tiểu đường:

Tiểu đường cũng là một bệnh hay

xảy ra ở người có tuổi. Bệnh tiểu đường,

tự nó là một yếu tố nguy hại đưa đến

bệnh hẹp tắc động mạch tim. Ngoài ra,

nếu không được kiểm soát, tiểu đường có

thể đưa đến các biến chứng cao áp

huyết, làm hạ cholesterol tốt, tạo thêm

các yếu tố nguy hại khác.

Ngoài ra, sự béo mập, ăn không ngồi

rồi ít vận động cũng khiến ta đến gần với

căn bệnh.

Triệu chứng

Bệnh hẹp tắc các động mạch nuôi

tim gây nhiều hội chứng khác nhau.

Bệnh có thể yên lặng, nằm vùng, không

gây triệu chứng gì cả, rồi đùng một cái,

gây "heart attack" (trong tiếng Việt, có

người gọi "cơn kích tim"), hoặc chết bất

đắc kỳ tử (sudden death), khi một động

mạch tim quan trọng thình lình tắc nghẽn

hoàn toàn.

Nhưng thường hơn, bệnh gây những

cơn đau ngực, gọi là "angina", do tim

thiếu dưỡng khí khi lượng máu nuôi đến

tim bất ngờ thiếu hụt. Đầu tiên, ngực chỉ

đau khi người bệnh hoạt động mạnh.

o0o

 

ệnh nặng hơn, người bệnh đau ngực cả

lúc đang nghỉ ngơi hay ngủ trong đêm.

Đau ngực do hẹp tắc các động mạch

nuôi tim cũng mang nhiều hình thái lắm.

Điển hình nhất là đau ngực bên trái hoặc

đau ở ngay giữa ngực vùng xương ức.

Cái đau như có vật nặng đè trên ngực

hay như có vòng đai siết quanh ngực,

làm người bệnh ngưng làm việc, vận

động, ngồi nghỉ để bớt đau. Cái đau có

thể lan lên vùng cổ, hoặc sang vai và tay

trái. Người bị "angina" có thể cảm thấy

khó thở, buồn nôn hay chóng mặt lúc

đau. Cũng có khi cái đau mơ hồ khó diễn

tả, khiến nhiều người tưởng mình đầy

hơi, ăn không tiêu.

Cơn đau kéo dài khoảng 1 đến 5

phút. (Đau ngực chỉ nhói lên trong vòng

vài giây hoặc ngược lại, ê ẩm, kéo dài

liên tiếp vài ngày thường không phải là

đau ngực do bệnh hẹp tắc động mạch

tim.) Khi một phần tim đột ngột hư hoại

vì thiếu máu nuôi, ta bị "heart attack".

Đau ngực trong trường hợp "heart

attack” khác hẳn với những cơn đau

ngực "angina" lâu lâu mới xảy ra tả trên.

Cái đau dữ dội, kéo dài (30 phút trở

lên), làm toát mồ hôi, có khi ngất xỉu, ói

mửa. Sự chữa trị trong trường hợp này tất

nhiên khẩn cấp.

Định bệnh

Sự định bệnh bệnh hẹp tắc các động

mạch nuôi tim dựa vào bệnh sử do người

bệnh kể, sự thăm khám và các trắc

nghiệm. Cũng như mọi tật bệnh khác,

bệnh sử do chính người bệnh kể cho bác

sĩ nghe bao giờ cũng là phần quan trọng

nhất, vì nhiều khi, chỉ cần dựa vào lời kể

 

 

bệnh mạch lạc, rõ ràng, có đầu có đuôi

của người bệnh, định bệnh đã rõ.

Chứng đau ngực xảy ra rất nhiều,

trong ngực và quanh ngực có nhiều cơ

quan có thể gây đau (thành ngực, tim,

phổi, thực quản, dạ dày, túi mật, ...).

Bệnh căng thẳng tâm thần (anxiety)

cũng hay gây đau, nặng ngực. Sự định

bệnh phân biệt xem đau ngực là do đâu

rất quan trọng, sai một ly đi một dặm,

nhưng tiếc thay, ít người biết kể triệu

chứng đau ngực của mình rành rẽ.

Khi kể bệnh cho bác sĩ nghe, bạn

nhớ kể theo thứ tự thời gian, dùng con số

để diễn tả, và lần lượt đi qua 8 điểm sau

đây:

1. Bị đau đã bao lâu (how long): bạn

bị đau ngực như vậy đã bao lâu: mới vài

ngày qua, một tuần qua, vài tháng quan,

hay đã nhiều năm?

2. Bao lâu cơn đau xảy ra một lần

(how often): mấy lần mỗi ngày, hay mấy

lần một tuần? hay chỉ thỉnh thoảng vài

lần một năm?...

3. Cơn đau kéo dài bao lâu (how

long does it last): mỗi khi xảy ra, cơn

đau kéo dài bao lâu (chi tiết này rất

quan trọng): vài giây, vài phút, vài tiếng,

cả ngày, liên tiếp vài ngày?

4. Cơn đau xảy ra trong trường hợp

nào (in what circumstance does it occur):

ngày hay đêm? lúc đang hoạt động, vận

động mạnh? hay lúc nghỉ ngơi? sau khi

ăn? lúc bụng đói?

5. Đau đích xác ở đâu (where is the

pain): xin bạn dùng một ngón tay để chỉ:

? giữa ngực? ở bên trái? ở bên phải? đau

lan lên cổ? lên vai? xuống bụng?...

6. Đau ra sao (how is the pain): đau

như dao đâm? đau như lửa đốt? như có

 

o0o

 

đá đè, hay như có vòng đai xiết quanh

ngực?

7. Các triệu chứng đi kèm khi bị đau

(what are the related symptoms): khi bị

đau, bạn có bị khó thở, choáng váng,

toát mồ hôi, buồn nôn hay ói mửa?

8. Khi bị đau, bạn làm gì cho bớt đau

(what do you do to get relief): bạn phải

ngồi hoặc nằm nghỉ, hay vẫn có thể tiếp

tục làm việc? Thường thường, khi bị đau,

bạn có thử dùng thuốc gì ở nhà để chữa

đau? (Tylenol, Maalox, Mylanta...) và

kết quả ra sao?

Thêm vào đấy, bạn cũng nên cho

bác sĩ biết bạn có hút thuốc lá hay

không, có bệnh tiểu đường hay cao áphuyết,

cao cholesterol trong máu? Và bố

mẹ, anh em ruột có ai bị bệnh hẹp tắc

động mạch tim lúc tuổi còn trẻ hay

không (đàn ông trước tuổi 55, đàn bà

trước tuổi 65). Không nên dùng chữ "đau

tim” để diễn tả, vì chữ này mơ hồ, không

cho người bác sĩ dữ kiện chính xác.

Bạn cũng đừng quên mang theo tất

cả những thuốc đang dùng ở nhà đến cho

bác sĩ xem. Thuốc men bạn đang dùng

cũng là những người bạn rất tốt giúp bác

sĩ định bệnh.

Phần thăm khám sau đó sẽ được thực

hiện tùy theo lời kể bệnh của bạn.

Chẳng hạn, áp-huyết của bạn sẽ được đo

xem có cao hay không, thành ngực của

bạn sẽ được sờ nắn xem có chỗ nào bị

đau? Tim và phổi sẽ được thăm khám kỹ

xem có những dấu chứng chi bất thường?

Bụng của bạn cũng được thăm khám để

xem bạn có bị những vấn đề như loét

bao tử, hay sạn túi mật gây cái đau bạn

cảm thấy trên ngực.

 

 

Sau phần thăm khám, nếu bác sĩ

không nghĩ là chứng đau ngực của bạn

gây do bệnh hẹp tắc động mạch tim, bác

sĩ sẽ chuyển sự định bệnh và chữa trị

sang một hướng khác thích ứng hơn.

Chẳng hạn nếu bác sĩ nghi bạn đau ngực

do bị bệnh dội ngược bao tử-thực quản

(gastro-esophageal reflux: một bệnh

cũng hay gây đau ngực), bạn có thể được

chữa trị thử với những thuốc để trị bệnh

này, hoặc được gửi đi chụp phim thực

quản và bao tử.

Sau kể bệnh và thăm khám, nhất là

nếu bạn là người kể bệnh có duyên,

cung cấp đầy đủ những dữ kiện bác sĩ

cần biết, bác sĩ nghi chứng đau ngực của

bạn nhiều phần là do bệnh hẹp tắc động

mạch tim, a, có nhiều thứ phải làm để

xác định: “đúng, bạn bị bệnh hẹp tắc

động mạch tim”.Chẳng hạn, bạn cần thử

máu để xem có tiểu đường không,

cholesterol bạn cao bao nhiêu. Tâm

động đồ (EKG) sẽ được làm, để xem nó

ra sao.

Trong những trường hợp mù mờ,

chưa rõ trắng đen, bác sĩ có thể sẽ gởi

bạn sang bác sĩ tim để làm trắc nghiệm

Treadmill (bạn được cho đi bộ hay đạp

xe đạp với tốc độ tăng dần, trong lúc con

tim của bạn được theo dõi, xem có những

biến đổi gì bất thường lúc bạn vận động).

Có những trường hợp Treadmill cũng

chẳng cho biết gì hơn, và bạn cứ than

đau ngực, bác sĩ tim đem bạn vào nhà

thương, cho bạn chụp hình các động

mạch tim sau khi các động mạch này

được bơm chất cản quang (coronary

angiography). Phim chụp đặc biệt này có

thể cho thấy động mạch tim nào hẹp hay

tắc, mức độ hẹp, tắc nhiều ít.

o0o

 

Có khi sau bao vất vả, và không

phải là không nguy hiểm, phim chụp

động mạch tim cũng bình thường nốt.

Bệnh sử được hỏi kỹ lại, hóa ra cái đau

ngực của bạn là do một nguyên nhân

khác, hiển nhiên ngay từ đầu, nếu bệnh

sử được lấy kỹ. Chỉ vì bạn kể bệnh

không được rành rẽ, hoặc thường hơn,...

bác sĩ đã không hỏi bệnh kỹ. Có khi

cũng do người bệnh Việt không rành

tiếng Mỹ, bác sĩ lại không biết nói tiếng

Việt, ông nói gà bà hiểu vịt, qua thông

dịch cũng không hiểu nhau thêm bao

nhiêu. Thế nên mới đưa đến bao những

tìm hiểu rắc rối, và... tốn kém (tiền của

Medi-Cal hay bảo hiểm thì cũng là tiền).

Bệnh sử bao giờ cũng là phần quan

trọng nhất trong tiến trình định bệnh.

Chữa trị

Sự chữa trị gồm nhiều mặt. Người

bệnh được giải thích rõ ràng về bệnh

trạng của mình để họ yên tâm: nhiều

người mang bệnh hẹp tắc động mạch tim

vẫn vui sống và hoạt động bình thường.

Các yếu tố nguy hại làm các động

mạch tim ngày càng hẹp tắc thêm cần

phải được loại trừ, chữa trị. Thí dụ: nên

bỏ thuốc lá, xuống cân nếu béo mập,

chữa trị cao áp-huyết, tiểu đường nếu có,

v.v..

Cũng cần chữa những bệnh khiến tim

phải gắng sức làm việc (như bệnh thiếu

máu, bệnh cường tuyến giáp trạng, ...).

Công việc hàng ngày cần được điều

chỉnh để tim khỏi mệt nhiều khi người

bệnh làm việc: các công việc có khi phải

làm với một tốc độ chậm hơn. Đặc biệt,

người bệnh nên tránh những công việc

 

 

dễ gây xúc động mạnh, vì sự giận dữ,

bực bội hay phiền muộn làm tim đập

nhanh hơn và tiêu thụ dưỡng khí nhiều

hơn.

Có nhiều loại thuốc được dùng để

chữa trị bệnh hẹp tắc động mạch tim.

Các loại thuốc này đều nhắm vào một

hay cả hai mục đích: làm giảm nhu cầu

sử dụng dưỡng khí của tim hay làm các

động mạch tim dãn nở to hơn, đưa máu

đến nuôi tim nhiều hơn. Một trong những

thuốc được dùng là một thuốc rất phổ

thông: thuốc Nitroglycerin ngậm dưới

lưỡi, để chữa cơn đau ngực “angina” cấp

tính.

Khi các động mạch tim đã bị hẹp tắc

đến một mức độ khá nặng, và sự chữa trị

bằng thuốc không còn nhiều hiệu quả,

người bệnh lúc đó cần đến sự trị liệu

bằng giải phẫu, thay các động mạch đã

bị tắc bằng các tĩnh mạch lấy từ dưới

chân lên. Giải phẫu này có tên coronary

bypass surgery. Trong một số trường hợp

chưa cần phải giải phẫu thay các động

mạch đã bị tắc, một trong những cách

chữa trị mới là dùng một ống thông đặc

biệt, đưa vào lòng động mạch bị bệnh và

nông dần chỗ bị hẹp cho rộng ra.

Cách phòng ngừa bệnh hẹp tắc động

mạch tim (coronary artery disease) gồm

việc tìm ra những yếu tố nguy hại có thể

sửa chữa, và triệt để loại trừ, trị chúng.

Tránh béo mập, vận động thường xuyên

cũng rất tốt.

Tin cựu Tổng Thống Clinton suýt bị

"heart attack" khiến mọi người quan tâm

hơn đến loại bệnh giết người bậc nhất

này. Chúng ta mừng cuộc mổ thay các

động mạch tim cho ông Clinton dã diễn

ra suôn sẻ, ông đang dần hồi phục sau

cuộc mổ.

Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức

   

 

 

Home | Up | thay lời tựa | trang chủ | liên lạc | giúp đở kỹ thuật | tác phẩm mới | danh ngôn thế giới | tuổi đời | thơ hoàng thuận dũng | nhạc nguyễn thiện doãn | văn hoàng thuận dũng | tài liệu | lưu bút | tác giả bốn phương | bốn phương | Câu Lạc Bộ Âm Nhạc | trang bạn

This page was last updated 05/10/05