|














|
|
Người Trẻ Thao Thức Về
Nền Văn Học Việt Nam
|
Phần I: Tiểu Sử
Trần Đức Anh Thư sinh tháng 8, năm 1982. Cô tốt nghiệp
ngành luật và hiện đang học tiếp chương trình LL.M. chuyên
về luật quốc tế thương mại, tại đại học Montreal. Cô là
chủ nhiệp và chủ bút tờ Ngàn Thông, một tuyển tập thơ văn
sinh viên tại Québec được phát hành khắp nơi. Ngoài ra, cô
thường đứng ra tổ chức các buổi thuyết trình, hội thảo
thanh niên, ngày hướng nghiệp... vv..vv.
Trần Đức Anh Thư còn được biết là một người trẻ năng nổ
trong các sinh hoạt đòi nhân quyền cho Việt Nam. Cô cũng
là giảng viên tiếng Việt cho người Québec (có vợ hoặc
chồng Việt). |
 |
Phần II: Phỏng Vấn
Tạp Chí Kết Đoàn (TCKĐ):
Chào Anh Thư! Được biết bạn đã lâu, nhưng hôm nay mới có cơ
hội “phỏng vấn” bạn (thay vì người khác bị bạn “phỏng vấn”).
[Cười]
Trong phần tiểu sử mà bạn gởi qua cho Tạp Chí Kết Đoàn, Anh
Thư có nói đến chuyện dạy Việt Ngữ cho người Québec, vậy bạn
cảm thấy như thế nào khi đứng trên bục giảng? Xin bạn kể một
vài chuyện vui buồn trong lớp.
Trần Đức Anh Thư (TĐAT):
Ngày đầu tiên đến lớp, tôi cảm thấy rất phấn khởi và tự tin.
Tôi đã chuẩn bị đủ thứ dự án và sinh hoạt cho những người học
viên của mình vì xưa kia tôi cũng từng dạy tiếng Việt và tiếng
Pháp cho các em từ mẫu giáo đến những năm cuối trung học,
người Việt lẫn người Tây. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên mà
tôi nhận dạy một lớp học gồm đủ thành phần người lớn lẫn các
em nhỏ. Đa số là những người có bố mẹ, hoặc vợ chồng là người
Việt. Một số anh chị chuyên viên độ tuổi 25-35 có người yêu
Việt Nam và sắp sửa lập “kế hoạch” lâu dài nên cũng theo học
Việt ngữ.
Tôi còn nhớ cảm xúc đầu tiên khi bước vào lớp học ngày hôm đó.
Đó là một phòng học nhỏ của một trường cao đẳng do Trung tâm
văn hóa giáo dục người Việt thuê lại vào ngày Chúa nhật. Lúc
đó đã vào cuối hè, thời tiết mát mẻ hơn. Phòng học tuy nhỏ,
nhưng có gần 30 học sinh ngồi chật ních, cười nói rổn rả nên
khi vừa bước vào lớp, tôi cũng hơi “choáng váng”. Khoảng cách
giữa hàng đầu và bàn của giảng viên không đầy nửa thước. Ba
mươi cặp mắt phóng vào tôi và khi thấy tôi đặt cặp lên bàn
giảng viên thì trong lớp yên lặng dần. Đảo mắt quanh lớp học,
tôi thấy đủ mọi thành phần, đủ mọi lứa tuổi, học viên trẻ nhất
độ 7-8 tuổi và người lớn nhất thì tóc đã muối tiêu. Mấy giây
phút đầu tiên khi tôi vừa giới thiệu và trình bày đề cương bài
giảng trong khóa là những phút giây hồi hộp, hoang mang nhất.
Không biết mọi người nghĩ gì, nhưng ít ra, tất cả đều chăm chú
lắng nghe. Sau đó, để có thời gian “chấn tĩnh” lại, và để
không khí linh động hơn, tôi mời mọi người tự giới thiệu về
mình và lý do vì sao đã ghi danh theo học Việt ngữ. Mỗi người
một lý do. Tất nhiên, hai lý do thường xuyên trở lại nhất là
vì trong gia đình có người Việt hoặc vì sắp sửa về Việt Nam đi
thăm quan.
Về việc dạy học Việt ngữ ở hải ngoại, chúng ta không có giáo
án đồng loạt cho các trường dạy Việt ngữ, nên thường thì chín
người mười cách. Đối với người Tây phương, tiếng Việt giản đơn
về mặt văn phạm, nhưng khó nhất là việc phát âm. Có giảng viên
bắt đầu mỗi buổi dạy một, hai dấu, để từ từ học viên làm quen.
Riêng tôi lại thích dạy một loạt dấu sắc, huyền, hỏi, ngã,
nặng để học viên được dịp so sánh. Chỉ qua đến buổi học thứ
hai thôi, tôi thấy các học viên đã bắt đầu quen và nhận ra các
dấu, còn khi chính họ phải phát âm thì vẫn còn gặp khó khăn.
Sau đó thì cứ theo thói quen, mỗi buổi học hai, ba vần, tập
đọc, tập đàm thoại và viết chính tả. Có những khi thấy các học
viên của mình nản chí thì tôi viết lên bảng một số từ mà cách
phát âm của tiếng Việt lẫn tiếng Pháp đều giống nhau và đùa
với họ rằng chỉ trong một phút thôi, họ đã học thêm được gần
mười chữ. Tôi cố gắng dạy theo kiểu “workshop” để buổi học
được linh động hơn. Ví dụ như khi học về các loại trái cây và
rau cỏ, một tuần trước đó, các học viên sẽ thu thập một số
giấy quảng cáo và đem vào lớp. Sau đó, họ có thể cắt dán vào
tập và viết chữ tiếng Việt bên cạnh mà không viết thêm tiếng
Pháp. Lúc khác, để chuẩn bị bài thi, tôi cắt một số câu đàm
thoại căn bản và đặt mỗi câu vào trong phong bì. Các học viên
sẽ đi một vòng quanh lớp tìm viết lại đủ mười câu ấy trên giấy
của họ. Tất nhiên, khi viết, họ phải sắp xếp các chữ cho đúng
văn phạm, đừng đặt tĩnh từ trước danh từ như tiếng Anh, tiếng
Pháp thì sẽ mất điểm, vv. Có lẽ cũng như các vị giảng viên
khác, niềm vui và sức mạnh thúc đẩy tôi là khi nhận thấy các
học viên của mình có tiến bộ. Được theo dõi tiến triển của họ
từ lúc không biết tiếng Việt có mấy dấu đến khi họ bắt đầu bi
bô đàm thoại được với nhau thì thật thú vị.
Từ xưa đến nay, lớp học Việt ngữ của Trung tâm nơi tôi đi dạy
chỉ mở cửa sáu tháng, từ tháng giêng đến tháng sáu. Ngày cuối
năm học, khi hỏi thăm cảm tưởng của mỗi học viên thì đa số đều
nói học như thế không đủ vì họ đi học sáu tháng và có sáu
tháng còn lại để quên những gì đã học được. Khi đó, một số học
viên đã viết thư đề nghị với trung tâm tìm cách tổ chức thêm
một niên khóa mới vào mùa thu và những người kiên cường nhất
đã ghi danh học tiếp.
Tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ với các học viên của mình. Họ
như những người bạn. Tôi cố gắng giúp họ học tiếng Việt với
những phương pháp mà xưa kia tôi đã dùng để học tiếng Pháp.
Đôi lúc gần như phải dạy kèm từng người một vì khả năng tiếp
thu của mỗi người mỗi khác và trình độ học vấn của mỗi người
ngoài đời cũng khác. Ví dụ như một em học trung học có mẹ là
người Việt học nói nhanh chóng và phát âm đúng hơn là một bà
bác sĩ gần năm mươi tuổi có chồng Việt Nam. Ngược lại, bà ấy
viết khá nhất lớp và giỏi cả chính tả lẫn văn phạm.
Sau này, vì chuẩn bị lập gia đình nên thời khóa biểu không còn
được thong thả như xưa nên tôi đã nghỉ dạy. Tuy nhiên, tôi vẫn
còn giữ liên lạc với một số học sinh và “lên dây cót” tinh
thần mỗi khi họ nản chí.
TCKĐ:
Gần đây chúng tôi thường nghe và đọc trên tuyển tập thơ văn
Ngàn Thông thấy bạn hay tổ chức các buổi thuyết trình, hội
thảo, ngày hướng nghiệp...vv... Xin bạn cho biết mỗi lần chuẩn
bị một buổi thuyết trình như vậy thời gian mất bao lâu? Và có
bao nhiêu bạn trẻ tham gia vào các buổi hội thảo/thuyết trình
ấy?
TĐAT:
Số tham dự viên tất nhiên tùy thuộc vào mục đích của mỗi dự
án. Trong thời gian qua, Ngàn Thông thường nhắm đến các buổi
gặp gỡ, trao đổi thân tình giữa các bạn trẻ, sinh viên thanh
niên trong tỉnh Québec và Ontario, nên số người tham dự không
thể quá hai trăm để các chương trình sinh hoạt đạt được hiểu
quả tối cao. Ví dụ buổi hội thảo thanh niên năm 2002 nhằm mục
đích tìm hiểu về nhu cầu sinh hoạt hiện nay của người trẻ Việt
Nam trong các lãnh vực xã hội, văn hóa và từ thiện; sau là nhờ
các tham dự viên đề nghị một số sinh hoạt mà họ nghĩ sẽ lôi
cuốn được nhiều bạn trẻ. Buổi hôm ấy có trên 100 tham dự viên,
gồm các sinh viên và cựu sinh viên của gần 20 trường đại học
trong tỉnh Québec và Ontario. Mục đích của ban tổ chức là thâu
nhặt được càng nhiều ý kiến của càng nhiều bạn trẻ từ những
lãnh vực khác nhau thì càng thành công. Tất nhiên, khi đông
như thế thì nhiều bạn ngại ngùng, không muốn phát biểu trước
đám đông. Vì thế nên ban tổ chức đã phải chia ra nhiều tiểu
nhóm để các bạn ấy thảo luận, và sau khi trở lại hội trường,
một số đại diện lên micro tóm tắt các ý kiến trong nhóm.
Gần đây nhất, Ngàn Thông đã tổ chức một ngày hướng nghiệp tạo
cơ hội cho các em học sinh năm cuối trung học và Cégep gặp gỡ
với các chuyên viên trẻ cũng như có tuổi trong cộng đồng. Đây
là lần đầu tiên chúng tôi làm việc cùng với Hội chuyên gia
Trung Quốc và hội tụ được trên dưới 50 chuyên gia trong nhiều
lãnh vực rất khác như kinh tế, luật, y, nha, dược, tâm lý,
kiến trúc, kế toán, kỹ sư, truyền thông, vv.
Ngoài ra, Ngàn Thông đã tổ chức một buổi thảo luận bàn tròn về
các hiệp định thương mãi quốc tế liên quan đến kinh tế và
chính trị tại Việt Nam. Hôm đó, ngoài số người được mời tham
dự, có nhiều người không ghi danh đã đến khiến cho cuộc thảo
luận bàn tròn trở thành bàn vuông. Các vấn đề được đề cập đến
ngày hôm đó không được đào sâu, cũng như đã gặp phải tệ nạn
phát biểu ngoài đề khá nhiều. Đó là bài học về việc tổ chức để
rút kinh nghiệm : đôi lúc quá đông người cũng không hẳn giúp
ngày sinh hoạt của chúng ta đạt mục tiêu.
Trong tương lai, Ngàn Thông dự định tổ chức một số workshop
như viết văn (creative writings) hay hùng biện. Trong các buổi
sinh hoạt này, số tham dự viên cũng phải giới hạn khoảng 20-25
người để đủ giờ cho mỗi người tham dự viết bài, đọc bài của
mình và được các bạn khác góp ý, chẳng hạn vậy.
Riêng về thời gian dành ra để thực hiện từng dự án, tôi cũng
không nhớ đã phải dành bao nhiêu thời giờ và trong bao nhiêu
lâu để thực hiện một chương trình sinh hoạt. Thong thường, như
các bạn thấy, dự định thì nhiều lắm, có những dự định đã ấp ủ
từ một hai năm trước, song phải tìm trong thời khóa biểu của
các thành viên một ít kẽ hở thì mới dám phóng lao. Trung bình,
ba hay bốn tuần trước ngày hội thảo là lúc phải làm việc cật
lực nhất. Mỗi người một việc - viết thư mời, tìm mạnh thường
quân, đăng quảng cáo, dán pamphlets, trang trí, vv. – thậm chí
có người còn phải gánh cả hai ba việc. Thức ngủ gì cũng nghĩ
về cái ngày hội thảo sắp tới, và chỉ một khi cái giờ phút cuối
cùng của hội thảo đã chấm dứt thì anh chị em trong ban tổ chức
mới thở ra được đôi chút. Thường thì trông người nào người nấy
mặt mũi xanh lè, mắt thâm quầng... ỉu xìu như bánh bao chiều
vậy (!)... nhưng vui và hãnh diện vì đã hoàn tất được một việc
hữu ích.
TCKĐ:
Anh Thư vừa học, vừa làm, và tham gia nhiều công việc cộng
đồng như vậy; thì, thời gian đâu bạn để giành cho gia đình?
Ông xã của bạn nghĩ sao khi bạn tham gia vào các công tác cộng
đồng, công việc thiện nguyện?
TĐAT:
Thiên hạ có câu đùa rằng: “Sau lưng mỗi người đàn ông thành
công đều có một người phụ nữ.” Thế thì, có lẽ rất nhiều chị sẽ
đồng ý với tôi một khi chúng ta đặt ngược lại trường hợp ấy :
sau lưng mỗi người phụ nữ thành công đều có một người đàn ông
thương yêu và hiểu họ. Tôi có được diễm phúc đó : anh nhà tôi
không những động viên tôi mà luôn là người đầu tiên giúp đỡ,
tạo điều kiện để tôi thực hiện những ước mơ của mình. Bố mẹ và
em gái cũng là những người rất gần gũi, giúp đỡ tôi về mọi
mặt.
Dù có được một hoàn cảnh hoàn hảo như thế, tôi cũng cố gắng
sắp đặt các ưu tiên trong cuộc sống của mình. Thường thì tôi
tự nhủ với mình, mỗi năm, tôi muốn đứng ra tổ chức một buổi
hội thảo dành cho các bạn trẻ, tham gia một công tác hữu ích
trong cộng đồng, viết được một câu truyện ngắn và một bài bình
luận, học thi tốt đẹp, và một khi thực hiện xong các điều ấy
thì thời gian còn lại, tôi dành để đọc sách và chăm sóc cho
gia đình nhỏ của tôi. Tôi cũng không hẳn cảm thấy bị thời gian
kềm kẹp suốt. Có những lúc rất strét do phải nộp bài đúng thời
hạn, hay kịp gửi báo đi in chẳng hạn, nhưng nhờ vậy mà những
lúc được nghỉ giải lao, đi xem phim, dạo phố với nhà tôi hay
uống nước hàn huyên với bạn bè là những giây phút thần tiên
nhất.
TCKĐ:
Ở lứa tuổi rất trẻ như bạn, chỉ mới 22, mà hiểu biết rất nhiều
từ các lãnh vực thơ văn đến cách sinh hoạt, ứng sử..vv..vv...
Và, cũng tiếp xúc với “ĐỜI” nhiều như vậy, Anh Thư có cảm thấy
rằng tuổi thơ của bạn mất đi so với những bạn bè khác cùng
trang lứa?
TĐAT:
Ối, chậm lại nhá! Với câu hỏi này, bạn đi nhanh quá tôi theo
không kịp!
Hỏi như thế, chắc bạn vô tình quên rằng thế hệ chúng mình phải
“đương đầu” với đời khá sớm, qua truyền hình, qua phát thanh,
nên cô cậu nào cũng đầy nửa thế kỷ trong mắt khi còn độ tuổi
đôi mươi.
Quan niệm của tôi là cuộc sống hiện thời vừa phong phú, vừa
rộng lớn và vòng xoáy tốc độ khiến cho mỗi người không thể
chạy theo hết mọi thứ, tìm hiểu ráo rọi mọi điều. Mỗi người sẽ
“già” hơn ở một khía cạnh nào đó, tùy hoàn cảnh. Ví dụ một bạn
có gia đình gặp khó khăn về kinh tế, phải ra đi làm sớm, bạn
ấy sẽ kinh nghiệm và biết rõ giá trị đồng tiền hơn những anh
chị được bố mẹ lo ăn lo ở cho đến khi học xong cử nhân, có
công việc làm tốt. Bạn khác biết yêu sớm rồi thất vọng sẽ thêm
kinh nghiệm trên bước đường tình cảm. Một em nhỏ, biết thương
yêu, lo lắng cho bà ngoại bị bệnh, đã trưởng thành hơn nhiều
người lớn không biết chăm sóc cho người thân. Nói chung, cái
chúng ta gọi là “tuổi thơ” là một quan niệm khá huyền hoặc.
Nghĩ đến tuổi thơ, tôi thường liên tưởng đến các em nhỏ sống ở
vùng quê làng mạc, suốt ngày cưỡi trâu, thả diều, bắt cá, sống
hồn nhiên không một lo âu. Cuộc sống của các em ấy mộc mạc,
đơn sơ và mọi người chung quanh các em đều như thế để các em
không phải so sánh: may ra “tuổi thơ” còn tồn đọng nơi các em.
Còn chúng ta là những đứa con của thành phố, trong hoàn cảnh
bố mẹ luôn phải đi làm, vài ba tuổi đầu đã bị đưa vào nhà trẻ,
tiếp xúc với đủ mọi thành phần, vô tình chúng ta sẽ học được
những thứ làm chúng ta “già” đi trước tuổi.
Và nếu bạn không bảo là tôi chơi chữ, tôi xin thêm rằng sẽ
luôn có những khía cạnh trong cuộc sống mà chúng ta không bao
giờ trưởng thành đủ, và vì thế mà luôn phải học hỏi và cho đến
khi già đi vẫn còn những chuỗi ngày phong phú, đầy ngạc nhiên
thú vị để khám phá.
TCKĐ:
Theo như chúng tôi được biết, ngoài Việt Ngữ và Anh Ngữ ra,
Anh Thư còn lưu loát cả Pháp Ngữ. Hỏi đùa câu này nhé, bạn
thích ngôn ngữ nào nhất?
TĐAT:[Cười]
Hỏi đùa mà thật khó trả lời đấy nhé! Nếu bảo tùy trường hợp
thì chẳng trả lời được câu hỏi, nhưng nếu trả lời ngôn ngữ nào
cũng thích hết thì sự thực cũng không hẳn thế. Trong văn viết,
mỗi ngôn ngữ có một cách diễn đạt riêng, cùng nói về một thứ,
nhưng sẽ tạo cho người đọc một cảm nhận hoàn toàn khác. Ví dụ,
khi bạn đọc nguyên tác của “Trăm Năm Cô Đơn”, rồi đọc lại một
bản dịch sang Việt ngữ hoặc Pháp ngữ, chắc chắn bạn sẽ cảm
nhận khác. Tất nhiên, giữa nguyên tác và bản dịch là sự diễn
giải của người phiên dịch. Nhưng dù người phiên dịch có theo
sát nguyên tác cách mấy, cái không khí của câu truyện phải
khác đi vì văn hóa của người Việt, người Pháp hay người
Colombie khác xa nhau, và điều đó thể hiện qua ngôn từ, qua
cách sắp đặt câu chữ. Trong văn nói cũng thế, mỗi ngôn ngữ có
một nhịp điệu riêng. Khó mà so sánh được quả cam với quả táo.
Có thể nhiều bạn đọc sẽ không đồng ý với tôi, vì cho rằng,
ngôn ngữ chỉ là hình thức, mà quan trọng là nội dung. Cien
ađos de soledad dù dịch ra tiếng Việt hay tiếng Anh vẫn luôn
là Cien ađos de soledad.
Tiếng Pháp và tiếng Việt là hai ngôn ngữ mà tôi dùng lưu loát
nhất. Khi dùng quen ngôn ngữ nào thì mình sẽ thích sử dụng nó
thường xuyên vì nó giúp mình diễn đạt những suy nghĩ, cảm xúc
một cách mạch lạc, chính xác hơn. Ví dụ, trong ngành chuyên
môn, nhiều ngữ vựng tôi học và sử dụng lần đầu tiên là bằng
tiếng Pháp. Giả sử như phải viết một bài luận về luật học bằng
Việt ngữ, chắn chắn tôi phải tra từ điển Pháp-Việt gần như
từng chữ. Ngoài công việc học, với bố mẹ, em gái và chồng, tôi
dùng tiếng Việt để trò chuyện hằng ngày. Tôi cũng thường xuyên
viết nhật ký và truyện ngắn bằng Việt ngữ, hiếm hoi lắm mới
diễn đạt cảm xúc bằng tiếng Pháp. Nếu giờ đây muốn viết một
bài tùy bút hay câu truyện bằng Pháp ngữ thì tôi sẽ phải đắn
đo, cân nhắc từng từ... nói chung là ngồi cắn bút lâu hơn.
Vì sống ở Québec, tôi ít có dịp sử dụng tiếng Anh. Chỉ đôi lúc
phải viết tiếng Anh để trao đổi với các cộng tác viên của Ngàn
Thông ở Úc hay ở Mỹ. Cho đến nay, tiếng Anh vẫn chỉ là phương
tiện giúp tôi đọc thêm các bài nghiên cứu mới trong ngành học.
Đôi khi siêng năng thì cố gắng ngồi đọc tác phẩm văn học của
người Anh và người Mỹ bằng nguyên tác, chứ không tìm đọc bản
dịch. Tất nhiên là sự cảm nhận sẽ không được sâu sắc như khi
đọc bằng tiếng Việt hay tiếng Pháp.
Nghĩ lại, bạn cũng như tôi, chúng ta rời Việt Nam quá sớm để
kịp hiểu thấu đáo ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, mà chúng ta cũng
còn quá trẻ để kịp học hỏi trọn vẹn một ngôn ngữ khác. Sự ra
đi này là một điều may mắn vì chúng ta được cơ hội tiếp cận
với những nền văn hóa khác, nhưng đồng thời, cũng là nỗi bất
hạnh, vì nếu không sành một ngôn ngữ thì khó có tác phẩm văn
học đáng kể.
TCKĐ:
Chúng tôi có nghe và được biết Anh Thư đang trong giai đoạn
tìm đọc và đối chiếu để nghiên cứu về Lịch Sử Văn Học Việt Nam
cận đại. Vậy, bạn có ý định in thành sách để phổ biến đến độc
giả?
TĐAT:
Ước mơ viết sách là một ước mơ được ấp ủ từ lâu lắm rồi, nhưng
cùng đi song song với ước mơ viết sách của tôi là sự đòi hỏi
phải nghiêm túc khi viết. Đối với tôi, điều này có nghĩa là
mình phải tìm hiểu tận nguồn những tác phẩm đã được viết,
nghiên cứu kỹ lưỡng những điều mình muốn nói, rồi mới được cầm
bút. Hiện giờ, tôi chỉ mới bước vào giai đoạn đầu: đọc sách và
tìm hiểu. Tự tìm sách đọc cũng như một người đi lạc tìm đường
trong rừng rú. Biết bao nhiêu là sách! Riêng việc bạn muốn tìm
hiểu về lịch sử Việt Nam cận đại đã có ít nhất ba lối nhìn: từ
phía người Việt Quốc Gia, từ phía Cộng Sản và từ phía Mỹ và
Châu Âu. Để sự hiểu biết của bạn được đầy đủ, bạn cần tìm hiểu
về những sự kiện trên chiến trường, những mưu kế chính trị, mà
còn cần tìm hiểu về đời sống của người dân hai miền Nam Bắc
lúc bấy giờ.
Có nghĩa là chiến tranh không chỉ là Điện Biên Phủ, những cuộc
thủ tiêu chính trị của Việt Minh, vụ ám sát tổng thống Ngô
Đình Diệm, vụ tàn sát Mậu Thân tại Huế, hiệp định Genève hay
hiệp định Paris, mà còn là các vụ cải cách ruộng đất, cuộc di
cư năm 54, phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, vụ án xét lại ngoài
Bắc, vv. Và chiến tranh Nam-Bắc không chỉ kết thúc vào năm 75
với làn sóng người Việt vượt biển ra đi. Những trại tù cải
tạo, những vùng kinh tế mới, những kỳ thị lý lịch là từng đòn
chính trị nhằm dìm nốt sự đối kháng cuối cùng của các gia đình
theo lý tưởng quốc gia, dân chủ.
Khi đi sâu vào vấn đề, mình mới thấy các sách sử chỉ thuật lại
quấy quá một số dữ kiện giản đơn. Các khía cạnh về đời sống
dân sự thường ít ai nhắc đến, mà đôi khi, chính nó lại là
những giải thích hữu lý nhất cho các diễn biến lịch sử lúc bấy
giờ. Có lẽ vì vậy mà người đọc sẽ cần nhà văn hơn bao giờ hết.
Các tác phẩm văn học, ít nhiều gì cũng phản ảnh đời sống dân
sự lúc bấy giờ.
Hiện giờ, có khá nhiều công trình nghiên cứu lẫn văn học khá
công phu, tuy chưa đầy đủ, nhưng là một chuyến cày vỡ lượt
đầu. Chiến tranh cũng vừa kết thúc chỉ ba thập niên. Về phía
các học giả Tây âu, số đông thiên tả, nhưng cũng có một vài
người có công trình nghiên cứu nghiêm túc như David Marr
(Vietnam 1945 : The Quest for Power, Vietnam vol. 146 World
Bibliographical Series), John Schafer (Vietnamese Perspectives
on the War in Vietnam: an Annotated Bibliography of Works in
English), Renny Christopher (The Vietnam War, The American
War), James Freeman (Hearts of Sorrow: Vietnamese-American
Lives), vv. Phần đông các nhà nghiên cứu này nếu không biết
tiếng Việt thì các sách sử được viết sẽ thiếu sót một phần rất
quan trọng: cái nhìn của chính người Việt về cuộc chiến
Nam-Bắc, nhất là người dân Miền Nam.
Nhiều năm sau đợt di cư năm 75, khi các lo lắng kinh tế và đời
sống tương đối được ổn định, nhiều người đã cầm bút viết hồi
ký, một số nhà văn lưu vong xuất hiện. Chỉ tiếc là nhiều tác
phẩm của họ được xuất bản bằng Việt ngữ và cho đến nay, đã có
rất nhiều tài liệu viết về các gian nan khi vượt biên, các đau
khổ trong trại tù cại tạo, cuộc sống vất vả của người Việt tị
nạn. Tôi nghĩ một việc rất cần thiết là phiên dịch các tác
phẩm này sang Anh ngữ. Trước hết là để trả lại cho các nạn
nhân của chế độ cộng sản một chỗ đứng bình đẳng trong tiến
trình diễn giải lịch sử đất nước Việt Nam. Sau là để đẩy mạnh
tiếng nói của người Việt lưu vong vào trong cộng đồng quốc tế.
Ngoài ra, việc sưu tầm lại và phiên dịch các tác phẩm văn học
miền Nam trong giai đoạn 1954-1975 cũng rất cần thiết vì hiện
nay, phần lớn các sách vở miền Nam đã bị tịch thu, đốt xé và
thất lạc. Việc ấn hành, phổ biến và phiên dịch các tác phẩm
văn học của các nhà văn trong nước nhưng không được in trong
nước vì không theo dòng chính hiện thực xã hội chủ nghĩa
(socialist realism) cũng rất quan trọng. Nếu xưa kia, nhà xuất
bản Ý không cho phát hành Bác sĩ Jivago, thì tuyệt tác này của
Pasternak sẽ không bao giờ được nhà xuất bản Liên Xô cho ra
mắt độc giả. Đấy sẽ là một mất mát lớn cho nền văn học nước
Nga. Nếu giờ đây không có những nhà xuất bản Việt Nam tại hải
ngoại bảo trợ việc in ấn các tác phẩm “xấu số” như Truyện Kể
Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, như Tiểu Thuyết Vô Đề của Dương Thu
Hương và nhiều tác phẩm mới trong tương lai thì văn học Việt
Nam sẽ chỉ phát triển một cách méo mó.
Một số tác phẩm văn học Việt Nam “xấu số”, nhưng có giá trị
đến nỗi đã được người Tây phương phiên dịch sang Pháp và Anh
ngữ cả trước khi người Việt chúng ta nhúng tay vào. Tuy nhiên,
không phải đa số đều may mắn được như thế và không phải lúc
nào các học giả Tây phương cũng sẽ lưu ý phiên dịch văn học
nước ta, nên công việc sưu tầm và phiên dịch đầu tiên là trách
nhiệm chung của người Việt Nam. Những người có khả năng ngoại
ngữ giỏi nhất hiện nay có lẽ là thế hệ trẻ chúng ta. Song, để
sử dụng khả năng ngoại ngữ ấy vào việc bảo tồn văn hóa Việt,
người trẻ cũng cần phải trau dồi thên tiếng Việt. Hiện nay,
tôi cảm thấy việc phiên dịch và phổ biến các tác phẩm đã có
cấp bách hơn mọi việc in sách riêng. Bạn thử mở quyển Văn Học
Việt Nam tổng quan của Võ Phiến (do Văn Nghệ tái bản) và tìm
đọc “Lời Nói Đầu”, bạn sẽ cảm thấy xót xa vì những mất mát
trong văn học nước nhà.
Sau 75, đất nước Việt Nam đã có thêm rất nhiều trẻ em mồ côi,
nhưng ít ai quan tâm đến những quyển sách mồ côi độc giả.
TCKĐ:
Anh Thư có nhắc đến phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ở Việt Nam,
một phong trào văn học giữa thập niên 50, nhưng nhanh chống bị
chính quyền CS tiêu diệt. Xin bạn cho chúng tôi biết vì sao
lại thích thú tìm hiểu về phong trào văn học này mà không phải
là những phong trào văn học khác?
TĐAT:
Như đã bàn với bạn khi nãy, để có được một cái nhìn toàn vẹn
về lịch sử, chúng ta cần đọc các sách sử lẫn các tác phẩm văn
học. Sau hiệp định Genève chia đôi đất nước năm 54, văn học
miền Bắc và văn học miền Nam đã phát triển rất... không đồng
đều. Sau 54, nhiều văn nghệ sĩ miền Bắc đã di cư vào Nam vì
không muốn sống dưới ách thống trị của Cộng sản. Trong số
những nhà văn di cư có Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Dương Nghiễm
Mậu, Duyên Anh, Lê Tất Điều, Nhật Tiến, Thảo Trường, vv. Khi
vào sống trong miền Nam, họ được tiếp tục tự do sáng tác và
phát triển tài năng của mình. Miền Nam lúc bấy giờ tương đối
cởi mở. Các nhà văn miền Nam được tiếp cận với nhiều luồng văn
hóa thế giới, hẳn đã làm phong phú thêm các sáng tác của họ.
Nhiều tác phẩm nổi tiếng được dịch sang Việt ngữ như sách của
Jean-Paul Sartre, Graham Greene, Herman Hesse, Leo Tolstoi,
Eric Segal, vv. Cả Bác sĩ Jivago là một tác phẩm bị cấm ở Liên
Xô lúc bấy giờ cũng được được Nguyễn Hữu Hiệu dịch sang Việt
ngữ. Nói chung, tự do tư tưởng trong lãnh vực sáng tác văn học
rất được tôn trọng tại miền Nam.
Trái lại, miền Bắc lúc bấy giờ chỉ có duy nhất một thể loại
văn học: hiện thực xã hội chủ nghĩa (socialist realism). Với
quan niệm mà Bộ chính trị Đảng Cộng sản mượn của Trung Quốc là
văn nghệ phải phục vụ chính trị, người viết chỉ được viết theo
chỉ thị – ca ngợi sự lừng lẫy của xã hội chủ nghĩa. Nhưng xã
hội miền Bắc lúc ấy rất nghèo khổ, có nhiều tình trạng “người
bóc lột người”. Ngay trong giới văn nghệ đã có hai thành phần
rõ rệt mà người dân gọi nôm na là “cai văn nghệ” và “cu ly văn
nghệ”. Thành phần “cai văn nghệ” là đảng viên được nắm vai trò
lãnh đạo, ăn sang mặc sướng, được bay đi tham dự hội nghị đây
đó. Thành phần cu-ly văn nghệ cũng là những văn nghệ sĩ từng
tham gia kháng chiến chống Pháp, dù không di cư vào Nam, phần
đông đều cố ý tránh Trung ương, tránh Đảng cộng sản. Họ sống
nghèo khổ. Có chuyện kể rằng nhiều nhà văn viết đêm không có
một tách cà phê để uống. Có một kịch sĩ phải bán chiếc đồng hồ
đeo tay của mình để bồi dưỡng viết cho xong cuốn sách nhưng
khi in ra không đủ tiền để chuộc lại chiếc đồng hồ. Người khác
thì đau lòng đứt ruột chẳng sáng tác được khi nghe con khóc và
không tìm đâu ra củ khoai cho con ăn. Dù thế, họ nhất quyết
không muốn viết theo chỉ thị của Đảng. Họ bất đồng với quan
niệm nghệ thuật phải phục vụ chính trị. Vào năm 1956, một số
nhà văn đã gom góp cho phát hành các Giai Phẩm mùa xuân, Giai
phẩm mùa thu, Giai phẩm mùa đông và một số báo Nhân Văn. Tờ
Nhân Văn là tờ báo tư nhân đầu tiên xuất hiện tại miền Bắc,
còn lại tất cả các báo chí đều là báo chí của Đảng. Chẳng bao
lâu, khi tờ Nhân Văn số 6 đang còn trong nhà in, thì Hồ Chí
Minh ký sắc lệnh bác bỏ quyền tự do ngôn luận của báo chí và
bắt văn nghệ sĩ phải phục vụ nền vô sản chuyên chính. Sắc lệnh
cũng dọa phạt tù từ năm năm đến khổ sai chung thân, kèm theo
tịch thu một phần hay toàn bộ gia sản nếu ai còn phạm vào
những điều cấm. Phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm kết thúc ngay
trong năm 1956. Sang năm 1957, trên 300 văn nghệ sĩ “đối lập”
bị bắt đi chỉnh huấn, rồi đi học tập lao động (đi tù cải tạo).
Đồng thời, dù sắc lệnh ban hành sau khi Nhân Văn – Giai Phẩm
đã chấm dứt, những người chủ trương vẫn bị đưa ra tòa và bị xử
có người15 năm tù, người 10 năm tù, vv. Đa số bị cấm sáng tác.
Nhiều người như Trần Dần, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đan, mãi đến
giữa thập niên 90, khi gần qua đời, mới được Đảng cho phép trở
lại sinh hoạt với Hội nhà văn.
Tôi muốn tìm hiểu về Nhân Văn – Giai Phẩm vì tôi ngưỡng mộ sự
can đảm của các nhà văn đã khởi xướng phong trào này. Vào năm
54, các văn nghệ sĩ này đã chọn ở lại miền Bắc vì tin vào chế
độ Cộng Sản. Cũng vì tin vào chế độ, nên họ mới chỉ ra các bất
công xã hội trong loạt bài viết của mình. Họ đã phải trả một
giá rất đắt cho sự trung thực của mình. Trong số đó có nhà thơ
Phùng Quán đã viết một lời bất hủ :
“Yêu ai cứ bảo là yêu,
Ghét ai cứ bảo là ghét,
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.”
Bài thơ này có tựa là “Lời Mẹ Dặn”. Mai này có con, bạn sẽ dạy
cho nó những lời thơ của Phùng Quán, hay bạn dạy cho nó lời
thơ này của Tố Hữu:
“Thương cha thương mẹ thương chồng,
Thương mình thương một thương Ông thương mười” ?
Các nhà văn trong Nhân Văn – Giai Phẩm bị các nhà văn học của
Cộng sản gán cho họ những tên như “tiểu tư sản”, “phản động”
và bị kết tội “gián điệp”, vv. Nhưng khi đọc chính tác phẩm
của họ, tôi chỉ thấy họ là những người trung thành với quan
niệm văn học; nghệ thuật phải phát xuất từ tình cảm, tâm tư
của cá nhân trước đã. Trong khi chế độ Cộng sản thì hoàn toàn
không chấp nhận nhà văn được viết theo tình cảm, tâm tư của
mình mà phải viết theo chỉ thị của Đảng Cộng sản.
Các tác phẩm trong Nhân Văn – Giai Phẩm cũng cần được phiên
dịch và phổ biến rộng rãi hơn. Theo như tôi biết, hiện giờ
không mấy người trẻ nào trong nước được biết về phong trào
Nhân Văn – Giai Phẩm, ngoại trừ vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm là
một vụ án gián điệp, kết tội những người văn nghệ sĩ phản
động. Chẳng ai có được các truyện ngắn, kịch, thơ của các nhà
văn này để đọc. Nếu có, chắc hẳn người dân sẽ nhận xét khác về
“vụ án gián điệp”. Các học giả ngoại quốc càng ít biết hơn nữa
về các văn nghệ sĩ này, dù trong số họ, nhiều người cũng chỉ
vừa qua đời trong thập niên 90 mà thôi.
TCKĐ:
Các tác phẩm trong Nhân Văn Giai Phẩm, Anh Thư chắc hẳn đã đọc
qua truyện ngắn/tiểu luận “Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh” của
nhà văn/nhà thơ Phùng Cung, được đăng tải lần đầu tiên trong
NVGP? Cảm nhận/nghĩ của bạn qua tác phẩm này?
TĐAT:
Tôi đã đọc qua “Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh”, tuy không phải
là truyện ngắn tôi thích nhất của phong trào Nhân Văn – Giai
Phẩm, nhưng nhiều nhà phê bình đã cho rằng đây là một tác phẩm
tinh tế, thâm thúy. Câu truyện ngắn này đã làm nhà văn Phùng
Cung bị tù đày và bị trù dập cho đến cuối đời.
Truyện viết về một con mã có sức khỏe vào bậc nhất, xông pha
chiến trận, “trải nhiều trận vào sinh ra tử” nhưng luôn hạ
được địch thủ và dành chiến thắng. Nhờ vậy, chúa Trịnh chọn nó
làm mã lệnh và cho đưa vào ở trong phủ Chúa. Ngày ngày, con
quý mã chỉ ăn và tắm. Nó ngày càng trở nên béo và kiêu ngạo
hơn. Một buổi sáng, nó được kéo xe cho Chúa và Bà Phi ra ngắm
cảnh ngoài thành. Nó lấy làm lạ vì nhớ con đường ngày xưa rất
rộng nay sao lại có vẻ nhỏ bé. Nó không biết vì bị lá đa che
ngang hai bên mắt nên chỉ nhìn thấy được một chiều. Nó đi
ngang qua thao trường, nghe đồng loại cất tiếng hí như chê bai
diện mạo của nó, nó quýnh lên quở mắng. Một thời gian sau, khi
nhiều tướng tá của Chúa bị thua trận, Chúa ra lệnh đem con quý
mã ra đua trường để ôn dượt trước khi cùng Chúa xông trận. Ông
tướng bèn tâu Chúa nên chọn một con mã khác khỏe hơn, còn cứ
để nó kéo xe vì từ khi đem nó vào phủ Chúa, nó ăn nhiều, nhưng
lại không hề luyện tập, “tài của nó ắt không được như trước”.
Ngụ ý của truyện ngắn này là đả kích các nhà văn, nhà thơ như
Xuân Diệu, Huy Cận, Hoài Thanh chỉ vì ham quyền lợi, miếng ăn
mà sẵn lòng làm tôi tớ cho Đảng và cuộc sống tôi mọi đã hủy
diệt hết tài năng trước kia của họ. Những bài thơ tình hay
nhất của Xuân Diệu mà chúng ta còn đọc cho đến bây giờ là
những bài được sáng tác trước khi Xuân Diệu vào Đảng. Sau khi
thề nguyện theo Đảng, Xuân Diệu đã viết những bài khát máu,
tương tự như :
“Anh em ơi! Quyết chung lưng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tư thù,
Địa hào, đối lập ra tro,
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương.
Thắp đuốc cho sáng khắp đường,
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay.
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống, đọa đày chết thôi...”
mà chẳng còn ai nhớ. Lời phê bình của Phùng Cung rất đúng.
Điểm chính mà Phùng Cung muốn nói trong “Con Ngựa Già Của Chúa
Trịnh” là bất cứ nhà văn nào đã dùng ngòi bút ca tụng chế độ
Cộng Sản để mong vinh thân phì gia thì văn chương của họ không
thể nào hay được. Mà chi tiết khiến cho Phùng Cung bị Đảng
trừng trị nặng nhất là ông đã nêu lên một sự thực nhục nhã :
“Các trí thức, văn nghệ sĩ, toàn bộ dân tộc Việt Nam đương
giống như con ngựa già của Chúa Trịnh, bị Đảng gắn vào hai bên
mắt hai cái lá đa bằng da, chỉ được nhìn thẳng một hướng hạn
hẹp. Trời mây, sông núi, hoa lá không còn thấy gì cả.” Nhà thơ
Nguyễn Chí Thiện đã gặp Phùng Cung tại một trong những trại tù
và sau này, khi ra khỏi nước, đã nhận xét như thế trong quyển
Hỏa Lò.
TCKĐ:
Thôi chúng ta tạm rời lãnh vực văn chương/nghiên cứu qua, và
hãy trở về với “xã hội” mà chúng ta đang sống. [Cười]
Xin Anh Thư cho các bạn trẻ và chúng tôi được biết làm thế nào
để trở thành người lãnh đạo trong cộng đồng? Những khó khăn và
cách giải quyết khi đối đầu trong các sinh hoạt với bậc trưởng
thượng? Và, bí quyết gì giúp bạn thành công trong những sinh
hoạt ấy?
TĐAT:
Tôi thấy mình chưa phải là người lãnh đạo thành công trong
cộng đồng nên không thể trả lời câu hỏi này của bạn, nhưng
hiện giờ, tôi đang tìm hiểu các phương pháp làm việc hữu hiệu
và có thể chia sẻ với bạn những gì tôi học được.
Trong việc làm báo, tôi thường tìm các cô chú, anh chị chuyên
gia thành công trong lãnh vực của họ và xin phỏng vấn họ. Ví
dụ, mùa hè năm trước, tôi dự định thực hiện một loạt phỏng vấn
các phụ nữ Việt Nam xuất sắc trong cộng đồng người Việt hải
ngoại. Nhờ thế, tôi đã được dịp trò chuyện cùng cô Lê Ngoan
(Chicago, Illinois), cô Nguyễn Trần Hương (Long Beach,
California), chị Lê Duy Loan (Houston, Texas) và học hỏi được
thêm rất nhiều. Những kinh nghiệm sống mà các vị này chia sẻ
là những điều mà bạn khó tìm được trong sách vở. Đấy là khi
tôi thắc mắc về thân phận người phụ nữ Việt Nam trong môi
trường đa văn hóa hiện nay, sự tiến thân trong xã hội Âu Mỹ,
trong nghề nghiệp và bổn phận làm Mẹ của họ, vv. Tôi nhận thấy
được một điều là bất cứ ai, dù giỏi giang đến mức độ nào, đều
phải cố gắng vượt bực từng ngày để đạt tới thành công họ đương
có. Cố gắng làm việc hết mình là bài học đầu tiên để rèn luyện
khả năng lãnh đạo của mình, vì nếu mình không điều khiển được
bản thân thì mình sẽ điều khiển được ai?
Ngoài ra, mọi người thường liên kết khả năng lãnh đạo và sự
thành công. Một người lãnh đạo là một người thành công trong
cuộc sống. Hay, phải thành công mới có đủ uy tín để bước ra
nhận vai trò lãnh đạo. Chúng ta nên định nghĩa lại “thành
công” là gì. Có nhiều người không “thành công” theo mức thang
giá trị của xã hội – là bác sĩ hay luật sư, làm lương cao –
nhưng họ khéo léo trong cách cư xử. Họ biết thuyết phục, động
viên mọi người, biết liên kết mọi người với nhau để cùng làm
một công việc chung, hướng đến một mục đích chung. Đấy là một
người biết lãnh đạo.
Một điều quan trọng hơn nữa là người lãnh đạo cần có lương tâm
và biết hy sinh. Trong mọi dự án, có những việc nhỏ nhặt,
chẳng ai muốn làm, nhưng người lãnh đạo, khi cần, phải biết
sắn tay áo và làm những công việc đó. Một người như thế là một
người làm việc vì lợi ích chung, chứ không vì danh vọng riêng,
và họ chính là những lãnh đạo đích thực.
Nghĩ cho cùng, tôi tin rằng chúng ta không nên quan trọng hóa
việc được làm lãnh đạo hay phải làm... lính (!) vì người lãnh
đạo cần có tinh thần phục vụ hơn là... khả năng sai bảo. Nên
đọc nhiều, học hỏi thêm và không ngừng tìm hiểu. Chắc chắn là
sau vài năm, bạn sẽ có một bị kiến thức căn bản và lòng tự tin
để tìm thấy những gì cần phải làm và thuyết phục được những
người chung quanh giúp bạn thực hiện các công tác ấy. Khi đó,
bạn sẽ mong muốn công việc được hoàn tất, bất kể ai là người
điều khiển dự án. Và rồi sẽ có kẻ này khen bạn thành công,
người nọ chê bạn thất bại, nhưng những lời phê bình sẽ không
ảnh hưởng nhiều đến bạn nữa. Chỉ có công việc và ước mơ của
bạn là ý nghĩa đối với bạn thôi.
TCKĐ:
Anh Thư đúng là một “Anh Thư” với “trí dũng song toàn”. Anh
Thư trả lời phỏng vấn thật hay và làm chúng tôi đọc mê. Nếu có
cơ hội, chúng tôi sẽ được tiếp chuyện với bạn trực tiếp bằng
xương bằng thịt “Face to Face” thì chắc là lý thú lắm!
Thay mặt Tạp Chí Kết Đoàn cám ơn bạn thật nhiều. Chúc bạn luôn
vui vẻ và hạnh phúc bên “gia đình nhỏ” của bạn. Và, chúc bạn
thành công trong sự nghiệp, học vấn, nghiên cứu...
Thực Hiện Phỏng Vấn: Trần Đức Anh Thư & Võ Phú
Hình Ảnh: Võ Phú (Trại hè Lên Đường, California).
Y-Thy
|
|
|
|