tùy

bút

Up | thay lời tựa | trang chủ | liên lạc | giúp đở kỹ thuật | tác phẩm mới | danh ngôn thế giới | tuổi đời | thơ hoàng thuận dũng | nhạc nguyễn thiện doãn | văn hoàng thuận dũng | tài liệu | lưu bút | tác giả bốn phương | bốn phương | Câu Lạc Bộ Âm Nhạc | trang bạn

trường hà

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

Tùy bút ngày Xuân

Trường Hà

 

 

Hàng năm cứ vào dịp Tết Nguyên Đán của Việt Nam thì thời tiết ở bên Đúc luôn luôn mang cái giá rét của trời đông, mây xám giăng ngập trời và những trận mưa tuyết mù mịt cả mấy ngày liền. Những đêm đông lạnh buốt như thế nhìn lên trời đúng ra chỉ thấy một màu đen, trăng và sao chìm khuất sau màn sương đêm hòa cùng với tiếng rít của gió như cắt ruột. Nhưng đêm nay trăng sao chưa đi ngủ, nhìn ra cửa nghe tiếng gió dịu êm, lòng chợt nghĩ đến những người thân mến.

 

Tôi ở bên Đức đã hơn 30 năm rồi, những mùa Xuân của quê hương hầu như đều giống nhau, đón Tết về với cái lạnh của lòng cùng với mùa đông của Tây phương. Nhớ đến lần đón Tết cuối cùng trước khi lên đường xa đất Mẹ đã hơn 30 năm dài đăng đẳng. Ngày ra đi sang Tây phương du học, tôi đuợc hầu như gần hết mọi người trong gia đình họ hàng tiễn chân ra phi trường, nhìn chiếc máy bay phản lực vút lên khung trời ươm nắng mang theo hình ảnh bé nhỏ của cậu học sinh đang ở tuổi đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời. Ngày ấy, tôi cứ nghĩ rằng mình sẽ trở về gặp lại người thân, có lẽ chỉ sáu bảy năm là cùng. Tôi còn nhớ lời tôi nói với mẹ tôi, tôi sẽ trở về sau bảy năm học là cùng, vì theo tôi dù có học y khoa là ngành lâu nhất đi nữa cũng chỉ bảy năm thôi. Mẹ tôi lúc đó đã rú lên kêu trời như bọng, bà bảo rằng bảy năm là một thời gian khá lâu, ông anh họ tôi lúc đó còn bồi thêm, khi tôi trở về có lẽ mẹ tôi ăn chén cháo tưởng như ăn chén chè vậy. Tôi hiểu rằng, ý anh tôi muốn nói là lúc đó mẹ tôi đã già lắm rồi, không còn phân biệt được món ăn nữa. Làm gì mà đến nỗi dữ dội như thế, tôi nghĩ thầm trong bụng.

 

Bây giờ thì đã ngoài ba mươi năm, những người thân của tôi sau 75 rồi cũng ra nước ngoài sinh sống. Cuộc đời tỵ nạn mỗi người một nơi. Lâu lâu tôi mới đi thăm được mọi người, nay đi nước này, mai thì qua miền đất khác để nhìn lại nhau, thăm hỏi nhau. Nhất là những khi năm hết Tết đến, dù ở xứ người cũng nghĩ đến hương vị quê hương. Thịt mỡ dưa hành câu đôi đỏ Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh.

 

Tôi lập gia đình với một người con gái Việt Nam vì tôi quan niệm rằng, dù sao cùng một tiếng nói, màu da vẫn hiểu nhau hơn và thông cảm nhau dễ dàng hơn. Mỗi độ Xuân về nhà tôi lại gói bánh chưng mấy chục cái, vừa để ăn dần mấy ngày Tết Nguyên Đán, đồng thời biếu xén thân bằng quyến thuộc. Nhà tôi tính tình rất tỉ mỉ, tinh tế, đúng như khoa tử vi tây phương nói về tuổi Xử Nữ, ngày tư ngày Tết nhà tôi miệt mài làm các thứ bánh mứt và nấu các món ăn lạ miệng cho cả nhà. Hôm trước tôi sang họp mặt Văn Bút Âu Châu ở Paris được thưởng thức món bánh bột lọc do chị Từ Dung, bà xã của anh Từ Nguyên làm trông như cuốn chả giò nho nhỏ, tôi về kể lại cho nhà tôi nghe, thế là gặp dịp lễ lạc, nhà tôi bèn làm thử món bánh bột lọc lạ miệng này. Ăn với nước mắm nhĩ ngon đáo để. Hầu như món ăn nào nhà tôi cũng biết cách làm như chả quế, giò lụa, nem chua, bánh da lợn, bánh tiêu, duy có món bánh bò là nhà tôi bảo làm không được xốp và tơi như ông Tàu bán bánh tiêu bánh bò ở đầu phố Saigon năm xưa.

 

Năm nay Tết lại về, những tràng pháo mừng năm mới của Tết Tây chưa dứt thì người người lại lo chuẩn bị đón Tết Việt Nam. Những tờ quảng cáo giới thiệu chương trình Xuân Quê Hương phát ra khắp mọi nơi. Chỉ trong vòng hai tháng đầu năm dương lịch thôi cũng có đến cả chục chương trình Văn Nghệ mừng Xuân rồi. Các con tôi cũng rất nô nức, hăm hở tham gia đóng góp văn nghệ mừng Xuân. Năm nay tiết trời thật là lạ, giữa tháng Giêng Tây mà ấm áp như mùa Xuân vậy, đài khí tượng loan báo nhiệt độ kỷ lục của những ngày đầu năm dương lịch. Nhưng có lẽ cái kỷ lục đáng nói nhất trong dịp lễ Tết năm nay là thiên tai khủng khiếp của những đợt sóng thần tàn phá vùng Ấn Độ dương. Những đợt sóng thần cao đến gần hai chục mét đã cuốn trôi hàng trăm ngàn người và gây cảnh màn trời chiếu đất cho mấy triệu người khác. Những hình ảnh phát đi trên truyền hình thatä ra không thể nào diễn tả nổi cái thê lương của thảm họa do trời đất gây ra, cũng như ngày xưa những hình ảnh về chiến sự tại Việt nam cũng vậy. Phải có mặt tận nơi mới cảm nhận được cái đau thương của nó. Người chết thì an phận, nhưng người sống sót thì bị ám ảnh cần được giúp đỡ để ổn định về tâm thần cho những ngày sắp tới của họ. Các chính phủ trên thế giới đã dành ra nhiều ngân khoản đóng góp vào sự cứu giúp cho những vùng bị thiên tai. Xem những hình ảnh đó tôi vô cùng xúc động và nghĩ đến đồng bào của mình từ bắc chí nam, hầu như năm nào cũng sống với thiên tai lũ lụt. Sau những lần giông bão lụt lội đó đồng bào mình thường thì chỉ còn biết tự giúp nhau, lá lành đùm lá rách, lá rách thì đùm lá tả tơi. Chỉ một số ít các nước trên thế giới đặt vấn đề giúp Việt Nam, chỉ có những người Việt Nam có diễm phúc không phải sống trong vùng thiên tai đã đóng góp, lạc quyên được ít nhiều và cố gắng mang về trao cho những nạn nhân bão lụt đó. Càng nghĩ tôi lại càng bồi hồi xúc động, thương cho dân mình, trưởng thành trong ly loạn, hết chiến tranh lại thiên tai, quê hương thì tan nát, tả tơi, chìm đắm. Tôi nhớ đến bài hát mà tôi và các anh em bạn cùng đi du học đẵ hát vào những năm cuối thập niên 70, đầu 80. Đặc biệt là bài hát Còn Ai Thương Dân Tôi được sáng tác tại Paris thì phải , trong đó có câu, còn ai thương dân tôi, đang đau khổ ngập trời, đang cúi đầu im tiếng, ngẹn ngào mà nghe giọt nước mắt rơi xuống đời... Vì thế trong những năm tháng miệt mài làm thông ngôn viên hay thông dịch viên cho những đồng bào Việt Nam vượt biên được tàu Cap Anamur vớt hay đồng bào Việt gốc Hoa bị đưa ra khỏi nước được sang Đức định cư hay cho các anh chị em từ Đông Âu vượt tuyến sang Đức tỵ nạn, tôi vẫn âm thầm cảm thông và xót thương cho số phận, hoàn cảnh của mọi người, không phân biệt già trẻ hay bắc nam. Có ai biết được tôi đã khóc ngay trong buổi phỏng vấn người đi xin tỵ nạn vì quá xúc động đối với số phận của những người chỉ đáng tuổi em tôi đã phải bươn chải, lăn lộn trên đường tỵ nạn hay nghĩ nát óc ra những lời khai để được phép ở lại Đức cư trú tỵ nạn. Còn có những người đáng cha mẹ mình mà phải quỵ lụy với người cứu xét đơn chỉ đáng hàng con em đang tra hỏi vặn vẹo về cuộc đời của họ hay là có những nhân viên phỏng vấn lợi dụng cơ hội để bắt nạt các cô gái Việt Nam trẻ tuổi. Những niềm xúc động quá sâu sắc đến độ nhiều khi tôi không còn rớm nước mắt được nữa, chỉ cho giòng lệ chảy vào lòng mình thôi, bằng không tôi không thể nào làm tròn nhiệm vụ thông dịch hay thông ngôn của mình được nữa.

 

Tôi thấy có nhiều người trách người tỵ nạn Việt Nam làm mang tiếng cho người Việt Nam nói chung, theo tôi cũng không hẳn vậy. Các cụ ta đã từng nói, đói thì đầu gối phải bò, có thực mới vực được đạo. Những người Việt Nam đó thật ra họ đâu có muốn như vậy, nhưng cuộc sống từ thưở bé, từ những ngày tuổi nhỏ của họ đã không có miếng no, lớn lên trong tản cư, sơ tán, giấc ngủ đi liền với tiếng đạn rít bom rơi, rồi buổi giao thời cha phải đi học tập cải tạo lao tù, thì thử hỏi họ phải làm sao để vươn lên mà sống khi bước vào thế gìới Tây phương dư thừa này. Họ thật sự hoang mang đến nỗi không biết phải bắt đầu từ đâu cho cuộc sống nữa. Tôi còn nhớ những ngày tham gia công tác giúp người vượt biên vượt biển của hội Hống Thập Tự và bộ ngoại giao Đức, tôi ra phi trường đón những người do tàu Cap Anamur vớt. Vừa xuống máy bay còn ngơ ngác gặp tôi chào đón họ bằng tiếng Việt nam, họ hú ầm lên vì thích thú. Lúc đó tôi nói với họ là nhân danh Tổng Hội Sinh Viên và Kiều Bào Việt nam tại Cộng Hòa Liên bang Đức để đón họ về trại chuyển tiếp trước khi đi định cư. Có người thấy tôi mặc chíc áo khoác chỉ bằng ni-lông thôi cũng xông lại hỏi chiếc áo đáng giá bao nhiêu tiền. Chỉ riêng điểm này cũng cho thấy cái khao khát một cuộc sống ấm no của đồng bào Việt nam mình rồi. Họ không đáng trách, có chăng là những người không lo được hạnh phúc cho người dân mà chỉ lo vinh thân phì gia, sống chết mặc bay, bình chân như vại, quyền làm người căn bản bị chà đạp không chút nương tay. Đôi lúc tôi vì quá thương xót đã trở thành thương hại rồi đi đến tình cảm bộc phát. Nhưng thời gian cũng làm phôi phai mọi chuyện, những người xin tỵ nạn dù vượt biên hay vượt tường vượt tuyến giờ đây phần lớn đã ổn định cuộc sống, nhiều người cũng có những cơ ngơi vững chắc. Khi gặp lại tôi sau này, họ còn nghĩ đến tôi vào những ngày Lễ lớn. Tôi chỉ ước mong là họ sẽ nghĩ đến những người đặt chân vào nước Đức sau họ, bắc nhịp cầu giúp đỡ người khác chứ không nên qua sông rồi thì đắm đò vào sóng hay đóng cửa rút cầu. Cái quan trọng là dạy dỗ cho con cháu biết thương yêu nòi giống Việt, không nên cho rằng chỉ có Tây phương mới có cái hay cái giỏi. Tôi đã từng khuyên nhủ con cháu tôi rằng, thế giới Việt Nam của chúng ta cũng có rất nhiều những điểm tuyệt vời, chỉ cần các con các cháu cảm nhận được điều đó mà thôi. Chỉ một thí dụ điển hình cho thấy ngay cả chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước đây khi cho sinh viên xuất ngoại du học, những ngành có thể đào tạo ngay trong nước như y khoa thì việc chấp thuận rất là hạn chế. Chính phủ rất khuyến khích đối với các ngành về khoa học kỹ thuật hay kinh tế tài chánh là những nhu cầu cấp bách cho việc xây dựng đất nước. Đây cũng là một ưu điểm của chính phủ trước đây vì biết y khoa là ngành tự mỗi quốc gia đều có cái hay và tự hào riêng, nên ít khi y khoa được công nhậân trên toàn thế giới mà hầu như đều phải học và thi lại để có bằng tương đương.

Một phần nào do hướng dẫn của cha mẹ nên con gái đầu lòng của tôi nay dù mới được 16 tuổi, vậy mà cháu đã làm được nhiều bài thơ Việt Nam, thơ tự do có, thơ tứ tuyệt cũng có. Tôi rất mừng vì thấy cháu còn tìm về tình tự dân tộc của giòng giống Lạc Hồng. Cháu mang tên Yến-Ngân là tên ghép hai vị Thánh Tử Đạo Việt Nam. Cháu Yến-Ngân là người Việt Nam đầu tiên mang tên Thánh Việt Nam, chứ không cần lấy tên nước ngoài như Maria hay Theresa nữa., vì thế sau này có nhiều người cứ thắc mắc, tại sao con tôi lại không có tên Thánh theo như ý nghĩ của họ, chứ không biết rằng Yến-Ngân chính là tên Thánh rồi. Tuổi của Yến-Ngân là tuổi Song-Nam, tuổi này mạnh nhất trong tử vi tây phương. Con trai tôi Minh-Khoa thì lại khác, hồi cháu 11 tuổi có lên hát trong chương trình Văn Nghệ Đại Hội Công Giáo tại Đức do nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn điều khiển chương trình. Anh Ngạn giới thiệu Minh-Khoa hát bài Con chim non với những ngôn từ mà sau ngày đó cháu Minh-Khoa nhất định không hát một câu tiếng Việt nam nào nữa cả, tôi buồn lắm và cố gắng an ủi, khích lệ cháu, nhưng vô ích mà thôi. Từ đó cho thấy người lớn cư xử đối với trẻ nhỏ thật là không phải dễ.

 

Nhìn ra khoảng trời trước mặt tôi nhìn được cả những vì sao lấp lánh vì không bị mây che lấp tận góc trời xa. Trong những vì sao kia có lẽ có những vì sao mang hình ảnh hay biểu tượng người thân của tôi, của bạn tôi. Một chiếc lá rơi ngang tầm mắt khiến tôi chợt nghĩ đến lời của bài hát, đời người như chiếc lá, nằm trong cơn gió vô tình.Quả thật đời người không ai biết trước được. Chỉ trong vòng chưa đến một năm mà tôi đã mất đi 4, 5 người thân thuộc, bạn bè. Anh tôi, chị tôi, bạn bè và thân hữu của tôi. Trong số những người thân này có chị tôi mới tròn 52 tuổi. Cả người bạn thân của tôi cũng ra đi cùng số tuổi với chị tôi. Ngày chị tôi mất tôi buồn mất mấy tháng trời. Bao nhiêu kỷ niệm thuở thiếu thời vui buồn với người chị này của tôi. Hai chị em ngày thơ ấu hay kể chuyện vui cho nhau rồi bưng miệng cười rũ rượi. Thời tiểu học, thấy chị tôi bị bệnh, tôi dù nhỏ tuổi hơn cũng đến trường vào lớp xin phép cho chị tôi nghỉ học. Vì chị tôi chỉ lớn hơn tôi hai tuổi nên tôi quen biết khá thân với những người bạn gái của chị tôi. Ngày ấy, chị tôi và mấy người bạn hay bàn tán để ý mấy anh sinh viên trước nhà tôi và nhờ tôi làm trung gian cho hai bên tiếp chuyện nhau. Hồi đó tôi còn nhỏ nhưng cũng thấy mấy anh sinh viên kia thật đáng ghét, làm bộ làm tịch, khiêu vũ qua lại cho mấy cô nhìn theo bài hát Đêm Đông qua tiếng hát của chị Bạch Yến. Chị tôi và các cô bạn cứ che miệng cười. Thời học lớp 9 trung học tôi và mấy người bạn cùng lớp nhi nhoe ra tập san, tôi có nhờ chị mang bài viết của tôi giao cho thầy hướng dẫån lớp duyệt xem. Sau khi gặp Thầy, chị tôi bảo là thấy Thầy không có ý khuyến khích chúng tôi làm báo vì Thầy là giáo sư toán học. Chị tôi cũng giải quyết giùm chúng tôi những tranh chấp khi tập tành làm báo, nội cái chuyện ai đứng tên trước trong ban biên tập cũng cãi nhau nhức cả đầu.

Thời gian trôi qua tôi lên đường sang Đức du học, từ đó tôi không còn gặp lại chị tôi cho đến khi chị tôi lấy chồng rồi vượt biên sang Mỹ sống. Tôi có gặp lại chị tôi hai lần bên Mỹ nhưng đã hơn 5 năm rồi. Ngày mới sang Đức tôi có mua ít quà nhờ những người qua trước về nước thăm gia đình cầm về biếu chị. Sau này nghe bạn bè của chị tôi kể lại, chị tôi đã khóc nhiều khi nhận quà của tôi gửi về vì cảm động. Dạo đó sau khi ra trường luật tôi hay đưa đón chị đi làm ở ngân hàng chung với mẹ của người bạn tôi cùng đi chung chuyến bay xuất ngoại. Khi tôi gửi hình về chị tôi mang vào cho những người bạn chung sở xem thì bà ta nhận ra có con của bà ta trong đó. Ôi, thật là một ngạc nhiên thích thú. Bây giờ người bạn đó đã bảo lãnh được cho mẹ sang sống chung tại Đức. Chắc bà ta không hay biết gì về sự ra đi của người đồng nghiệp năm nào. Tôi rất ngại chuyện báo tin buồn. Bây giờ viết những dòng chữ này tôi còn cảm thấy bùi ngùi thương cảm. Xin được cầu nguyện cho chị tôi với mấy vần thơ:

 

Chị tôi nay đã xa rồi

Đâu còn nghe tiếng nói cười ngày xưa

Đêm đêm ngắm ánh sao khuya

Em còn ngỡ chị vui đùa với trăng.

Người bạn thân của tôi ra đi sau chị tôi mấy tháng.

 

Chúng tôi đã quen biết nhau trong thời gian hoạt động đấu tranh cho tự do của đất nước cả trước và sau 75. Từ những buổi họp với Tổng Hội sinh viên Paris bên Pháp đến những lần gặp gỡ với Trần Văn Bá khi sang Đức sinh hoạt, Nghĩa, tên của bạn tôi, đều tích cực dấn thân dù rằng rất mệt mỏi. Tôi còn nhớ có năm sang Paris họp với anh em Tổng Hội có cả sự góp mặt của chị Minh Đức Hoài Trinh mà sau này đã từng là chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Hôm ấy tôi cùng với Nghĩa đã trao đổi chuyện trò với chị Minh Đức Hoài Trinh. Cách nay có mấy tháng tôi và Nghĩa còn nói chuyện điện thoại với nhau và hẹn nhau gặp lại trong một buổi sinh hoạt Tết Trung Thu do sinh viên Bochum tổ chức. Tiếc là Nghĩa thì đến sớm, còn tôi đến muộn nên không gặp được nhau. Nghĩa còn kể tôi nghe chuyện bão lụt ở miền Trung cách đây 2 năm. Nghĩa bảo không thể tưởng tượng được là nước dâng cao lấp cả cột cờ Đại Nội ở Huế. Khi còn là sinh viên chúng tôi đi làm hè chung với nhau nên Nghĩa đến nhà tôi ở. Nghĩa ta thật khoẻ, một mình khênh cái Tivi màu 23 inch từ nhà chàng đến nhà tôi lên đến lầu 6 của cư xá sinh viên. Có ngày tôi bị tai nạn trong hãng, Nghĩa đã đem xe chở tôi vào bệnh viện. Bây giờ cứ mỗi lần nhìn thấy vết thẹo nơi đầu gối của tôi, thì hình ảnh Nghĩa lại hiện ra trước mắt tôi khó mà xóa nhòa được. Hai đứa cũng nhiều kỷ niệm vui buồn với nhau. Ngày tôi làm bài ra trường ngồi đánh luận án đến 3 giờ sáng cho kịp thời gian nộp, Nghĩa đang say giấc bất chợt choàng tỉnh mở mắt ra và khuyên tôi nên đi ngủ !. Nghĩa rất chịu khó học, ra trường với mấy bằng cấp dù mất nhiều thời gian với việc tranh đấu vàhoạt động cho tự do dân chủ nước nhà.

 

Ngày Nghĩa lấy vợ, chàng gọi điện thoại cho tôi để mời và còn nhập đề lung khởi: "Mày biết không, hôm trước là Hoàng Tử Charles lấy Công Nương Diana, bây giờ tới phiên tao." Hồi đó tôi thấy Nghĩa tự so mình với một hoàng thái tử nên chỉ im lặng. Theo tôi, lời ví von này không hên mấy, vì Công Nương Diana đã ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ. Về sau này Nghĩa hầu như ngưng hẳn hoạt động. Tôi đã mấy lần rủ Nghĩa đi biểu tình chung nhưng rồi sau đó lại không đi nữa. Hình như Nghĩa đã biết bệnh tình của mình. Người bạn của tôi đã thử nhiều loại dưỡng sinh, thuốc bắc, thuốc nam, dược thảo. Nhưng rồi cuối cùng phải xuôi theo định số mặc dù chính anh là một dược sĩ .

 

Ngày tang lễ của Nghĩa tôi cũng đến dự và cầu nguyện cho anh bạn Nghĩa của tôi sớm về với đất Mẹ ngàn đời mà anh hằng yêu dấu.

 

Thi sĩ Huy Giang cũng ra đi khi còn trẻ tuổi để lại vợ hiền con dại mới vừa mấy tháng nay. Tôi và anh Huy Giang sinh hoạt chung trong Văn Bút Âu Châu. Dù sống chung trong nước Đức, nhưng anh ở miền nam còn tôi gần bắc Đức nên chỉ gặp nhau khi có dịp sinh hoạt chung mà thôi. Thường thì chúng tôi chỉ hỏi thăm qua điện thoại hay trao cho nhau những mẩu thơ qua phương tiện Email của máy Computer mỗi khi có Lễ Tết mà thôi. Lần họp mặt Văn Bút Âu Châu ở Reutlingen gần thành phố Đại học Tuebingen, miền nam Đức cách nay 4 năm tôi và anh Huy Giang và vài văn hữu khác xúm nhau vào bàn chuyện tử vi tướng số. Trong đêm sinh hoạt Văn Bút anh Huy Giang đã giới thiệu ra mắt tập thơ của anh. Chị Huy Giang và các chị nội tướng của các văn hữu trong vùng thì niềm nở và tích cực trong công tác ẩm thực, nhiều món ăn rất là độc đáo.

 

Đó là lần cuối cùng tôi gặp anh Huy Giang. Anh bị bệnh đã đến thời kỳ khó chữa, dù vậy anh vẫn cố gắng khắc phục với nhiều cách khác nhau. Anh chị em văn hữu vẫn tìm cách an ủi và yểm trợ cả tinh thần lẫn vật chất cho đến ngày anh ra đi vẫn còn tiếp tục để những người thân yêu của anh còn ở lại đỡ cảm thấy cô đơn.

 

Người đầu tiên báo tin buồn là anh văn hữu Vũ Nam, kế đó là anh văn hữu Đan Hà, đều là những người coi như chòm xóm láng giềng với anh Huy Giang vì ở cùng một khu vực và họ cũng đều biểu lộ tình cảm nồng nhiệt đã dành cho anh Huy Giang.

 

Tiễn anh Huy Giang về nơi an nghỉ cuối cùng có mặt cả anh văn hữu Từ Nguyên, chủ tịch Văn Bút Âu Châu từ Paris sang dự mặc dù đường xá xa xôi. Thật là những nghĩa cử cao đẹp, vì tình người trên đất khách càng ở lâu mới thấm thía. Anh cựu văn hữu Tùy Anh cũng tưởng niệm nhiều về anh Huy Giang. Còn tôi giờ đây cũng cúi đầu hướng về chàng thi sĩ tài hoa nhưng vắn số. Chúc anh sớm về miền tiên cảnh và rải hoa thơm xuống cho cuộc đời của những người thân yêu còn ở lại.

 

Tôi cũng không quên những kỷ niệm khó quên với người anh họ của tôi bên Mỹ vừa ra đi.

Người anh họ này rất thương yêu và quý mến tôi từ những năm tháng thiếu thời của tôi.

Ngày ấy khi còn trong tiểu học, sau khi trường học tổ chức chích ngừa bệnh đậu mùa thì tôi bị dị ứng và lên cơn sốt mấy ngày liền, tôi còn nhớ anh tnh tôi đã đưa xe Jeep đến tận cửa nhà để tặng tôi hộp bánh sâm-banh mà tôi ưa thích. Có lần anh tôi còn tổ chức để tôi được đi xem đá banh ở sân vận động Cộng Hòa. Anh tôi đã mua vé sẵn và chỉ đưa chúng tôi đến cửa sân vận động. Thuở bé mà được đi xem đá banh đá bóng tôi thích lắm. Lúc đến đón chúng tôi anh vừa lái xe vừa khen đội banh đá hay ra phết, lúc đó mấy anh chị em tôi mới biết là cả anh họ tôi cũng vào xem, nhưng ngồi ở hàng ghế khác. Sau này anh làm việc ở Vũng Tàu. Mấy người bạn ở Hải Quân muốn được về phép nhờ tôi giúp gặp anh can thiệp cũng được anh ân cần cho đạt thành ước nguyện. Qua đó tôi càng quý mến anh nhiều hơn vì biết anh là người trọng tình nghĩa, dạy dỗ con cái rất nghiêm minh nên chúng nó đều thành đạt cả.

 

Có lần ra Vũng Tàu chơi, tôi đạp xe đạp ra bãi dâu bãi dứa để tắm biển. Con đường dọc theo bờ biển khu vực này có đoạn đổ dốc rất nguy hiểm. Vì còn nhỏ tuổi nên tôi chưa có kinh nghiệm, do đó tôi bị ngã lăn quay trên con dốc, sát bên đường là vực với nhiều tảng đá lớn. Tôi bị trầy trụa thương tích khắp người nên anh họ tôi vô cùng lo lắng. Anh cố gắng nhờ mấy sĩ quan bạn anh cho tôi về Saigon chung và còn cho tôi số tiền lớn để tiêu nữa.

 

Trước ngày đi du học, tôi nói chuyện điện thoại với anh họ tôi, lúc đó thấy anh nói chuyện về tình thế đất nước vô cùng căng thẳng. Tôi hơi ngạc nhiên vì theo dõi tình hình chính trị khi ấy rất sát, biết là chiến dịch 3 tháng thừa thắng xông lên tái chiếm lãnh thổ của Tổng Thống Thiệu khá có kết quả nên tôi mới được phép đi du học. Hơn một năm sau tôi mới biết, thì ra lúc đó có tin là chính phủ dự tính ký hiệp định Ba-Lê đình chiến vào ngày 26 trong tháng chứ không phải mãi đến 27.1.73 mới ký nên quân đội đang báo động.

 

Ngày sang Mỹ thăm gia đình gặp anh, anh vừa lái xe vừa nhận xét, bên Mỹ này phần lớn hữu học mà vô hạnh. Rồi anh đánh xe đưa hai vợ chồng và hai đứa con tôi đi ăn ở quán Phở Hòa San Jose, anh bảo, phở ở đây nấu ngon. Dù lớn tuổi, anh vẫn còn rất là ga-lăng với phụ nữ làm tôi nhớ lại ngày anh ăn khao lon ở Vũng tàu, bọn trẻ chúng tôi trầm trồ khi anh nhảy đầm với nữ nghệ sĩ Túy Hoa. Chị họ tôi tính tình rất khiêm tốn và luôn nói chuyện ôn tồn, đấy là cái hạnh phúc của đời anh.

 

Hôm tang lễ của anh cử hành ở Los Angeles Hoa Kỳ cũng có rất đông chiến hữu của anh đến viếng, trong đóù có cảø cụ Đại Úy Châu, chú ruột của nhà tôi từng làm việc và sinh sống tại Vũng Tàu và hiện nay sống ở Santa Anna, Hoa Kỳ. Ông Chú cứ tưởng tôi sẽ sang dự tang lễ nên có ý tìm nhưng không gặp. Công việc bận rộn và nhiều trở ngại, xin anh thông cảm cho em.

 

Thắp nhang khấn trước anh linh

Nguyện anh về cõi trường sinh muôn đời.

Trời bắt đầu trở gió lạnh hơn, tôi vói tay đóng cửa sổ lại. Ngoài kia nhiều chiếc lá như bị đóng băng đang từ từ rơi xuống đất, thật vô tình. Mùa Đông hay mùa Xuân vậy nhỉ ?

 

 

Trường Hà, Vũ Duy Toại

Dusseldorf, Đức Quốc

 

Đôi dòng tiểu sử:

Trường Hà là bút hiệu của Vũ Duy Toại, du học tại Đức từ 1972/73. Theo học về kỹ sư điện toán, y khoa, tin học, kinh tế và luật học. Làm việc tại các viện Đại Học Dortmund, Bochum. Thông dịch viên tòa án từ 1987. Hội viên Hồng Thập Tự và hoạt động nhân quyền giúp đồng bào tỵ nạn tại Đức từ 1978. Hội viên Văn Bút Âu Châu. T?ng cộng tác với báo chí Saigon trước 1975 và sinh hoạt báo chí Hải Ngoại. Chủ trương cơ sở Văn-Khoa Việt Nam từ 1990 với Hội Văn Hóa và Khoa Học Việt nam. WWW.Van-Khoa-Viet-Nam.de

Trường Hà

 

 

Up | thay lời tựa | trang chủ | liên lạc | giúp đở kỹ thuật | tác phẩm mới | danh ngôn thế giới | tuổi đời | thơ hoàng thuận dũng | nhạc nguyễn thiện doãn | văn hoàng thuận dũng | tài liệu | lưu bút | tác giả bốn phương | bốn phương | Câu Lạc Bộ Âm Nhạc | trang bạn
This page was last updated 05/09/05