|
Nghệ Thuật Quảng Cáo
Bài trước, tác giả đã trình bày cùng các bạn về những mánh
khoé, những phương cách buôn bán không được lương thiện lắm
của bọn con buôn, tiếng Mỹ thường được gọi là "scams", dùng
để gạt gẫm những khách hàng nhẹ dạ để thủ lợi. Lần này, tác
giả xin được trình bày về một khía cạnh khác của nghề buôn
bán. Ðó là kỹ thuật thương mại hay nghệ thuật quảng cáo,
tiếng Mỹ được gọi là marketing techniques, hay advertising
techniques.
Tuy cùng một mục đích tối hậu là "moi" tiền của khách hàng,
"scams" hoàn toàn có tính cách lường gạt, mặc dầu đôi khi
chúng được cẩn thận sắp đặt và nguỵ tạo để không phạm pháp.
Ngược lại, advertisings hay quảng cáo, là một kỹ thuật
thương mại hoàn toàn hợp pháp và còn được dạy hẳn hòi tại
các trường đại học.
Trong những cửa hàng bán lẻ lớn như Target, Walmart, chúng
ta thường thấy những giá biểu cho các món hàng thường mang
số lẻ như $9.99, $14.98, $4.89, vân&vân& Ðây là kỹ thuật sơ
đẳng nhất nhưng hiệu quả nhất trong ngành quảng cáo. Khi mắt
chúng ta nhìn thấy một món hàng rao bán với giá 9 đô 99 xu,
óc chúng ta sẽ bị lừa và nghĩ rằng món hàng đó chỉ có 9 đô
(99 xu lẻ thường không được nghĩ đến). Khi chúng ta trả tiền
cho món hàng đó, 9 đô 99 xu, thay vì 10 đô, chúng ta cảm
thấy vui vẻ và hài lòng vì nghĩ rằng nó rẻ. Chín đô, nghe ít
hơn mười đô rất nhiều. Trên thực tế, trị giá của món hàng
này chỉ thiếu 1 xu là chẵn 10 đô.
Kỹ thuật này được áp dụng cho hầu hết các món hàng, từ những
món hàng vài chục xu cho đến những chiếc xe vài chục ngàn,
thậm chí cho cả những căn nhà đáng giá bạc triệu. Chẳng thế,
chúng ta mới có cửa hàng "99 cent only store", một cửa hàng
bán lẻ nổi tiếng tại Cali và nhiều tiểu bang khác với châm
ngôn "không có món hàng nào trên 99 cents trong tiệm chúng
tôi".
Ai trong chúng ta cũng biết kỹ thuật sơ đẳng này, nhưng rất
ít người biết tại sao khi niêm yết giá cả, các cửa tiệm
thường dùng những số 9, số 8, số 6, và 3 nhiều hơn là số 1,
4 hoặc 7, nhất là những con số tận cùng. Một lý do là các
con số trên số 5 thường được dùng vì nó gần với số 10, như
kỹ thuật căn bản mà chúng ta đã thấy ở trên. Nhưng lý do
chính đằng sau sự xử dụng những con số 9, 8, 6 và 3 dựa trên
những công trình nghiên cứu y khoa. Sau những nghiên cứu về
hệ thần kinh và não bộ của chúng ta, các bác sĩ đã khám phá
ra rằng bộ óc chúng ta thường ghi nhận các con số có hình
dáng tròn như số 9, 8, 6, và 3 nhanh hơn những con số có
hình dáng thẳng như 1, 4 và 7. Những con số có sự tổng hợp
của đường cong và đường thẳng như 2 và 5, được xem là trung
dung. Con số 0, tuy có hình dáng tròn nhưng ít được xử dụng
vì nó phản lại nguyên tắc căn bản, nhất là đối với số lẻ.
Vì những lý do kể trên, rất ít khi chúng ta thấy một món
hàng bán với giá $140.01 hay $170.01, thay vào đó, chúng ta
sẽ thấy món hàng này được bày bán với giá $139.99, hay
$169.99. Chỉ rẻ hơn 2 xu nhưng lại lôi cuốn và hấp dẫn khách
hàng hơn.
Có khi nào bạn lâm vào tình trạng đứng trước một lố hàng bày
trên kệ mà phân vân không biết phải chọn thứ nào? Ngoại trừ
nếu bạn chủ ý mua một món hàng nhất định, bạn sẽ phải mất
khá nhiều thì giờ để suy nghĩ, lựa chọn vì thấy loại nào
cũng tương tự như nhau, chỉ khác chăng là tên của công ty
sản xuất, hình thức trình bày, màu sắc và giá cả của chúng.
Ðiều này xảy ra thường xuyên cho tác giả, một người không
thích mua sắm và không rành về giá cả. Vậy thì lý do nào để
một khách hàng chọn sản phẩm A, mà không chọn sản phẩm B,
sản phẩm C hoặc sản phẩm D ?
Cũng theo những sự nghiên cứu của các chuyên gia, người ta
khám phá ra rằng, hầu hết những sản phẩm được chọn đều có
những tên quen thuộc, được bày trên kệ ngang tầm mắt, được
trình bày với những màu tươi như màu đỏ, màu xanh lá cây,
màu vàng, và nhất là với giá tiền gồm những con số tận cùng
bằng 9 và 8.
Chúng ta hãy lấy thí dụ của sản phẩm Coca Cola. Coca Cola là
loại nước giải khát bán mạnh nhất tại Hoa Kỳ và trên toàn
thế giới, gần gấp đôi địch thủ của họ là Pepsi Cola. Yếu tố
nào để Coca Cola trở thành bá chủ trong ngành nước giải
khát? Xin thưa, phần lớn là do Coca Cola chịu tung tiền cho
việc quảng cáo cho sản phẩm của họ. Nếu các bạn chịu khó để
ý, tại những cửa hàng bán lẻ và tại các siêu thị, Coca Cola
bao giờ cũng được bày bán ngang tầm mắt hoặc ngay trước
những hành lang, hoặc những nơi bắt mắt. Coca Cola phải trả
tiền cho sự ưu tiên này. Một yếu tố khác mang đến sự thành
công của Coca Cola là sự trình bày của sản phẩm này. Coca
Cola được đựng trong lon nhôm hoặc trong chai thuỷ tinh, bên
ngoài dán nhãn hiệu màu đỏ tươi với hai chữ Coca Cola viết
hoa theo chiều nghiêng 45 độ. Với màu đỏ tươi và với những
đường cong trắng tuyệt diệu, Coca Cola đã thành công trong
việc hấp dẫn và lôi cuốn khách hàng.
Nhiều người cho rằng Coca có vị ngon hơn Pepsi hoặc những
loại nước giải khát khác. Không hẳn là như vậy. Ðể chứng
minh điều này, tác giả xin đơn cử một thí dụ. Trong thập
niên 80, Pepsi đã tung ra một chiêu pháp để mong đánh bại
Coca với một kế hoạch thương mại có gọi tên là "Let your
tastes decide (Hãy để vị giác của bạn quyết định)". Với kế
hoạch này, Pepsi thiết lập những trạm nếm thử tại các siêu
thị và các thương xá trên toàn Hoa Kỳ. Một cách kín đáo, họ
rót Coca và Pepsi vào hai ly khác nhau. Sau đó họ mời gọi
khách hàng hãy uống thử hai ly nước này và cho biết loại nào
ngon hơn. Kết quả đã làm ngạc nhiên rất nhiều người. Hơn một
nửa số người uống thử đã chọn Pepsi, mặc dầu nhiều người
trong số này là những người đã uống Coca cả đời.
Dầu vậy, chiến thuật này cũng chẳng giúp Pepsi Cola làm
nghiêng được cán cân về phía mình, và vẫn phải tiếp tục cúi
đầu chào thua Coca Cola.
Vậy thì điều gì đã giúp Coca Cola đánh bại Pepsi Cola?
Có lẽ một phần vì Coca Cola đã ra đời trước Pepsi Cola và
phần khác, như đã nói ở trên, có lẽ nhờ vào kỹ thuật trình
bày sản phẩm của Coca Cola. Phải chăng vì cái màu đỏ tươi
của và những đường cong trắng tuyệt diệu của Coca Cola đã
hấp dẫn hơn vòng tròn xanh đỏ của Pepsi Cola? Nhân đây, tác
giả xin cống hiến quý bạn một vài chi tiết lịch sử rất thú
vị về loại nước giải khát vô địch này.
Coca Cola được phát minh, chế biến và sản xuất vào tháng
5-1886 tại sân sau nhà của một dược sĩ có tên là John Stith
Pemberton. Coca Cola, thời đó mang tên "Pemberton's French
Wine Coca", có màu xanh lá cây, được bày bán trong các tiệm
thuốc (drugs stores) tại Georgia như một loại dược liệu
"sinh tố cho não bộ và tinh thần (brain and nerve tonic)" và
đã được quảng cáo là có thể chữa được bệnh nhức đầu. Số bán
trung bình cho năm đó chỉ vỏn vẹn 9 ly một ngày.
Công thức nguyên thuỷ của Coca Cola được biến chế từ hạt
kola bên Phi Châu và lá cocoa, cả hai đều là những chất kích
thích rất mạnh, thêm vào đó Coca Cola còn có cả rượu vang.
Coca Cola là một trong hằng ngàn sản phẩm cầu chứng được bán
ra trong thế kỷ 19 đã được tìm thấy có chất cocain (bạch
phiến).
Mùa hè năm đó, một khách hàng bước vào tiệm thuốc và cho
biết anh ta đang bị nhức đầu. Anh yêu cầu người bán hàng pha
cho anh một ly Coca Cola. Vì lười không muốn đi đến cuối
quầy để lấy nước lạnh, anh chàng bán hàng đề nghị với người
khách dùng nước soda để pha. Người khách hàng đã rất hài
lòng với vị Coca-Cola được pha với soda. Chẳng bao lâu, sinh
tố Coca-Cola đã sủi bọt khi được rót ra ly. Coca Cola lần
đầu tiên được bán dưới dạng nước giải khát với giá 5 xu một
ly tại Atlanta, Georgia.
Trong năm đầu tiên, Dr. Pemberton thu vào được 50 Mỹ kim
nhưng tốn 73.96 Mỹ kim cho chi phí quảng cáo.
Năm 1888, một thương gia tên là Asa Griggs Candler mua lại
công ty từ Dr. Pemberton.
Người kế toán viên của Dr. Pemberton là Frank M. Robinson,
bây giờ là nhân viên của Candler, đề nghị dùng tên Coca-Cola
vì nó chính là tên của hai chất liệu được tìm thấy trong
loại sinh tố này. Robinson cũng nêu lên là hai chữ C sẽ rất
đẹp trong hình quảng cáo và sẽ hấp dẫn khách hàng. Từ đó tên
Coca-Cola ra đời.
Ðến năm 1914, tài sản của Candler đã vượt 50 triệu Mỹ kim.
Năm 1903, vì vấn đề tranh cãi trong việc dùng bạch phiến,
Coca Cola quyết định chỉ dùng những lá cocoa đã bị phế thải
(spent cocoa leaves) để lấy mùi vị, và họ cũng chấm dứt việc
quảng cáo là Coca Cola có thể chữa được bệnh nhức đầu, cùng
lúc cũng chấm dứt việc dùng rượu vang trong việc pha chế.
Một điều thú vị về loại nước giải khát được ưa chuộng nhất
thế giới này là không một người còn sống nào biết được hoàn
toàn công thức pha chế nó, ngay cả những người đang làm chủ
công ty này. Công thức pha chế Coca Cola được chia ra làm ba
phần, và được giao cho 3 người đứng đầu công ty, mỗi người
chỉ được giữ một phần. Công thức này được bỏ vào trong tủ
sắt an toàn và được bảo vệ cẩn mật như những hầm chứa tiền
của các sòng bài Las Vegas. Lý do họ làm như vậy để không
một người nào trong ban quản trị công ty có thể đi đêm, phá
luật và bán cái công thức tuyệt diệu này cho một người khác.
Ngày nay, Coca Cola được bán trên 150 quốc gia trên thế giới
kể cả Trung Quốc và Việt Nam. Tổng số bán trong năm 1995 của
Coca Cola đã vượt 15 tỷ Mỹ kim. Nhưng không phải những bộ óc
siêu việt của những ông vua thương mại không mắc lỗi lầm.
Vào năm 1985, ban quản trị của Coca Cola đã vấp phải một lỗi
lầm nghiêm trọng khi họ thay đổi công thức của Coca Cola để
cho ra đời một sản phẩm mới gọi là "New Coke". Kết quả là
những năm sau đó, số bán của Coca Cola tuột dốc thảm hại,
khiến họ lập tức ngưng sản xuất "New Coke" và trở lại sản
xuất "Classic Coke". Sự thay đổi về công thức đã làm Coca
Cola đã mất đi một số khách hàng đáng kể.
Chúng ta hãy trở lại với vấn đề quảng cáo.
Kỹ nghệ quảng cáo trên toàn cầu nói chung và tại Hoa Kỳ nói
riêng là một kỹ nghệ được xếp vào hàng đầu và có ảnh hưởng
rất mạnh mẽ với chúng ta. Quảng cáo hiện diện ở khắp mọi
nơi, dưới mọi hình thức. Từ báo chí, truyền thanh, truyền
hình, phim ảnh, trên xa lộ, đường phố cho đến hông xe buýt,
xe điện, trên băng ghế đá, trên nền trời và ngay cả trong
nhà vệ sinh. Một kỹ thuật mà các công ty thường áp dụng là
dùng các tài tử nổi tiếng, các thể tháo gia, các danh ca và
các siêu người mẫu để quảng cáo sản phẩm cho công ty của họ,
nhất là những tài tử, danh ca, người mẫu duyên dáng như
Britney Spears hoặc có thần hình khêu gợi như Claudia
Schiffer. Do đó, chi phí quảng cáo không phải rẻ, đôi khi,
có thể lên đến bạc triệu. Thật vậy, một show quảng cáo của
Nike, Pepsi Cola hoặc Budweiser dài chỉ một phút trong trận
Super Bowl đã được trả với giá một triệu Mỹ kim hoặc hơn
nữa. Thật khó tưởng tượng.
Nhưng chủ nhân của các công ty thương mại đều biết rằng, nếu
muốn sống còn trên thương trường, họ phải tốn tiền quảng
cáo. Tuy hơi đau, nhưng cái lợi nhiều hơn cái hại. Bỏ con
tép bắt con tôm là thế.
Nhưng dầu sao giới tiêu thụ chúng ta cũng phải cám ơn họ.
Chính nhờ vào sự tung tiền ra quảng cáo mà chúng ta mới có
được những chương trình truyền hình, hoặc truyền thanh miễn
phí, mặc dù nhiều người lý luận rằng các chương trình này
không miễn phí vì chính chúng ta đã trả tiền cho chúng dưới
một hình thức khác.
Các cơ quan truyền thanh truyền hình và báo chí đã có công
rất lớn khi họ mang đến cho chúng ta những kiến thức về các
sản phẩm, các dịch vụ mà nếu không có họ, chúng ta sẽ không
bao giờ biết đến các sản phẩm hoặc dịch vụ này.
Nhưng buồn một nỗi, nhiều cơ quan truyền thanh, truyền hình,
báo chí, nhất là của các cộng đồng thiểu số như cộng đồng
Việt Nam, vì cái lợi về vật chất trước mắt mà họ đã quên đi
nhiệm vụ chính của họ là đem lại món ăn tinh thần cho khán
thính và độc giả.
Họ đã không cân bằng được tỷ số quảng cáo với tỷ số các
chương trình hoặc chuyên mục khác.
Nếu chúng xem một chương trình truyền hình hoặc nghe một
chương trình truyền thanh Hoa Kỳ, ba phần tư thời gian của
họ là chương trình chính và chỉ một phần tư là phần quảng
cáo. Ngược lại, nếu chúng ta xem những chương trình truyền
hình hoặc nghe những chương trình truyền thanh của Việt Nam,
chỉ có một phần tư thời gian dành cho chương trình chính,
còn ba phần tư, nếu không muốn nói là chín phần mười, là
phần quảng cáo. Thậm chí, có những đài phát thanh còn có
những cái tên nghe rất văn nghệ hoặc khoa học, nhưng chương
trình cũng chỉ toàn là quảng cáo thương mại. Có lẽ họ nên
đổi tên đài cho thích hợp hơn.
Việc làm thiếu sự suy tính này đã làm phản tác dụng của
nghành quảng cáo vì số khán thính giả nghe đài hoặc xem
truyền hình bực tức, lẩm bẩm văng tục và sau đó chuyển qua
đài khác không phải là ít.
Các ông bà chủ đài đổ lỗi cho các thân chủ của họ không chịu
chi tiền cho quảng cáo, không đủ cho họ làm giàu, vì vậy họ
phải chạy nhiều quảng cáo để bù lại. Chạy nhiều quảng cáo
thì phải cắt chương trình khác. Cắt chương trình thì khán
thính giả nổi giận không thèm xem hoặc nghe quảng cáo. Kết
quả các mẫu quảng cáo không còn hiệu quả nữa và người thiệt
thòi chính là các ông bà chủ tiệm.
Ðể chấm dứt bài viết này, tác giả xin ghi lại đây một câu
chuyện vui của Mỹ mà tác giả đã có lần đọc qua ở đâu đó.
Có một ông chủ tiệm buôn nọ, nuôi sống thân thể bằng thức ăn
quảng cáo, mặc áo quần quảng cáo, mang giày quảng cáo, đội
nón quảng cáo, đi xe quảng cáo, mua nhà quảng cáo, ngủ trên
giường quảng cáo, đánh răng bằng kem và bàn chải quảng cáo,
giải trí tại những nơi quảng cáo, bất cứ thứ gì ông có cũng
đều là sản phẩm đã được quảng cáo, nhưng ông ta lại hà tiện
không chịu quảng cáo cho thương vụ của mình vì sợ tốn tiền
quảng cáo. Thế rồi ông sập tiệm, và cuối cùng ông phải đăng
quảng cáo bán tiệm. Sau đó, ông ngồi một mình khóc tỉ tê và
tự hỏi tại sao số ông lại đen như thế.
Một bài học rất hay, đáng nhớ cho những người làm thương
mại.
Trần Quốc Sỹ
|