|





|
|
Lê Mộng Nguyên, nhạc sĩ, và tân hội viên chánh
thức của Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại Pháp.
Trần Quang Hải (Paris, tháng 01-1998)
 |
Thân thế
Lê Mộng Nguyên,
sinh ngày 5 tháng 5, năm 1930, tại Phú Xuân (Huế), tỉnh Thừa Thiên
(miền Trung Việt Nam), là con trai áp út của một gia đình nho
giáo, điền chủ ở tỉnh Thừa Thiên. Cha tên là Lê Viết Mưu (từ
trần), mẹ tên là Hồ thị Ngô (từ trần). Có tất cả 7 anh chị em theo
thứ tự lớn nhỏ: Lê Mộng Tùng (từ trần), Lê Mộng Ðào (ở Việt Nam),
Lê Thị Tố Huệ (từ trần, vợ ông Lê Văn Hy), Lê Thị Tố Vân (ở Việt
Nam), Lê Mộng Hoàng ( đạo diễn nổi tiếng, hiện ở Việt Nam), Lê
Mộng Nguyên (ở Pháp), và Lê Mộng Quán (từ trần). Lúc nhỏ, bắt đầu
đi học ở trường làng Phú Xuân, rồi vào học trường tiểu học (Ecole
Primaire Chaigneau ở Huế. Sau đó thi tuyển vào trường trung học
Khải Ðịnh và đậu cao (một trong ba người đỗ đầu) và học cho tới
thi Tú tài (1943-1950). Ông làm thơ nhạc và viết văn từ thuở nhỏ.
Lúc 9 tuổi khởi sự làm thơ, và có nhiều bài thơ (ký tên là Yên Hà)
được đăng
trong nội san của trường trung học Khải Ðịnh
(Huế). |
Trúng tuyển Giải thưởng Hoàng Ðế Bảo Ðại (Prix S. M. Bảo Ðại) trong
một cuộc thi Văn Chương Học Sinh Trường Trung Học, ông viết một bài
về "Phan Ðình Phùng" được đăng báo lúc mới 15 tuổi và có thẻ nhà báo
ngay năm 18 tuổi. Ðã cộng tác ở quốc nội với Phật Giáo Văn Tập, Quốc
Gia, Việt Nam Tân Báo (của Nguyễn Văn Bông), Ðường Mới (Bùi Xuân
Bào), Cách Mạng (thơ đăng thường xuyên với biệt hiệu Yên Hà), và sau
này khi sang Pháp cộng tác với Quê Mẹ, Tiếng Sông Hương-Dallas
(Nguyễn Cúc trách nhiệm), Tiếng Sông Hương-Virginia, Việt Ðiểu (đặc
san văn học nghệ thuật, của Như Hoa Lê Quang Sinh), Chúng Ta (của
Bùi Xuân Quang), Le Médecin du Việt Nam (của BS Trần Quang Lộc),
Tiếng Gọi Dân Tộc (của Võ Long Triều), Tin Tức (của Nguyễn Ðình
Nhân), Á Châu, vv.... Khi sang Pháp, ông vẫn độc thân cho tới một
buổi chiều ngày 1 tháng 5, 1957 sau cuộc biểu tình thường niên của
lễ Lao Ðộng Pháp, tại khu Quartier Latin, nơi quen thuộc của giới
sinh viên, trên chiếc cầu Saint Michel bắt ngang sông Seine, ông Lê
Mộng Nguyên gặp một cô gái Pháp tên là Nicole Moulin, và đã hát cho
cô ấy nghe bài hát Trăng Mờ Bên Suối. Chính bài hát này đã làm mềm
lòng cô thiếu nữ diễm lệ và ngày 8 tháng giêng năm 1959 (cũng là
ngày tướng De Gaulle chấp nhận chức Tổng thống xứ Pháp để thành lập
đệ ngũ cộng hòa, và ông Michel Debré, thủ tướng đầu tiên của đệ ngũ
cộng hòa và thành lập nội các), cô Nicole Moulin chánh thức trở
thành bà Lê Mộng Nguyên. 40 năm sau, hai ông bà dù không có con với
nhau, vẫn còn say đắm yêu nhau như thuở ban đầu.
Sự nghiệp âm nhạc
Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên nổi tiếng nhứt qua bài Trăng Mờ Bên Suối viết
theo cung thứ vào ngày 13 tháng 11, năm 1949. Lúc đó, Lê Mộng Nguyên
mới có 19 tuổi. Ông bắt đầu để ý tới nhạc mới lúc còn nhỏ. Ông đã tự
học nhạc với quyển La 2ème Année de Musique, Solfège et Chants (Năm
thứ 2 âm nhạc, Nhạc pháp, và Bài hát) của ông Marmontel, nhà xuất
bản Armand Collin, Paris, năm 1890. Về nhạc khí, ông bắt đầu học
đánh đàn măng cầm (mandoline) với một người bạn học cùng lớp. Sau
đó, ông học đàn ghi-ta (guitare) với người anh của bà Tôn Nữ Tư Tề.
Rồi ít lâu sau, ông lại học đàn vĩ cầm (violon) với ông Lê Ðình
Luân, con trai của bác sĩ Lê Ðình Thám. Ông Lê Đình Luân biến mất
sau khi muốn rời bỏ kháng chiến Việt Minh để trở về vùng quốc gia
chống Cộng. Bà mẹ của ông Luân có tặng cho ông Lê Mộng Nguyên cây
đàn violon của ông Luân là con của bà. Cây đàn violon đó được mang
theo sang Pháp với Lê Mộng Nguyên, và vẫn còn được giữ thật kỹ như
một bảo vật tại nhà ông ở Paris. Bản nhạc đầu tay mang tên là Xuân
Tươi sáng tác vào năm 15 tuổi, ký tên là Lan Ðào (tên của hai người
em gái của Trần Ðình Bá), và được đăng trên báo Quốc Gia. Lúc mới
sáng tác bài này xong, Lê Mộng Nguyên có đưa bản nhạc cho ông Tôn
Thất Niệm xem và đàn thử trước tiên ( ông Niệm sau thành bác sĩ,
nhưng rất có khiếu về nhạc, gia đình Hoàng Gia, hiện cư ngụ tại tiểu
bang California, Hoa Kỳ). Bài nhạc Mừng Khánh Ðản đã được Thượng Tọa
Minh Châu nhờ Lê Mộng Nguyên sáng tác vào năm 1948 nhân dịp khánh
thành Chùa Từ Ðàm. Bản nhạc Trăng Mờ Bên Suối, một bài nhạc nổi
tiếng nhứt của Lê Mộng Nguyên, đã được sáng tác vào ngày 13 tháng 11
năm 1949, một buổi chiều trong vòng 30 phút cả nhạc lẫn lời trên tập
giấy học lý hóa để nói lên nỗi lòng của tác giả khi nhớ người yêu
(người yêu này là đề tài sáng tác của một số nhạc phẩm về Huế, miền
Trung và sau này gặp lại nhau, tại Hoa kỳ, đôi bên đều có gia đình
nhưng cả hai trở thành bạn thân), nhớ Sông Hương Núi Ngự trước khi
lên đường sang Pháp du học vào năm 1950. Chính nhạc sĩ - ca sĩ Thu
Hồ là người hát đầu tiên bản Trăng Mờ Bên Suối trên đài phát thanh
Pháp Á năm 1949. Ông là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên sáng tác nhạc về
Huế, miền Trung, ca tụng nơi ông sinh ra, lớn lên với bao kỷ niệm
thời thơ âú. Ngoài những nhạc phẩm có tính cách tranh đấu như "Vó
Ngựa Giang Hồ" (1949), hay "Mùa Lúa Mới" và "Trường Ca Quân Tiến"
(đăng báo Cách Mạng - 1956) hoặc những bài dành cho thanh thiếu niên
Phật Tử ở Huế mà trong đó có bản "Mừng Khánh Ðản" (1948) do Phật
Giáo Văn Tập phổ biến nhân dịp lễ khánh thành chùa Từ Ðàm tại Huế,
nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên đã sáng tác từ thời thiếu niên nhiều ca khúc
hướng về tình cảm lãng mạn, nói lên tình cảm của người xa xứ hay của
người còn ở lại quê hương. Những nhạc phẩm được viết trong năm 1949
gồm có: "Trăng Mờ Bên Suối", "Một Chiều Thương Nhớ", "Trọng Thủy Mỵ
Châu", "Chiều Thu", và "Mưa Huế". Năm 1950, Lê Mộng Nguyên cho chào
đời những sáng tác như: "Hoàng Hoa Thôn", "Nhớ Huế", "Bài Thơ Huế",
"Cô Gái Huế", "Về Chơi Thôn Vỹ Dạ", "Ðôi Mắt Nhung", "Mơ Ðà Lạt",
"Ly Hương" đã được các nhà xuất bản Hương Mộc Lan, Tinh Hoa, Ái Hoa,
Á Châu, An Phú, vv.... xuất bản và tái bản nhiều lần, và được nhạc
sĩ danh ca Thu Hồ đặc biệt trình bày lần đầu tiên trên đài phát
thanh Pháp Á (Radio-France Asie). Sau đó các nữ ca sĩ nổi tiếng như
Hoàng Oanh, Hà Thanh, Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Lan, Kim
Tước, Hương Thủy, Kim Thu, Quỳnh Tư, Hương Lan đã trình bày hoặc thu
vào băng nhạc, CD phổ biến trong quốc nội và hải ngoại. Từ ngày rời
cố đô Huế ngày 5 tháng 10, 1950 với hãng Air France sang Pháp du
học, nhạc của Lê Mộng Nguyên của những ngày tháng đầu tiên xa nhà
đều nói lên sự nhớ nhung và thương nước thương nhà như "Xuân Tha
Hương" (1951, nhà xuất bản An Phú), "Lá Thư Cho Mẹ" (1951, An Phú),
"Trời Âu", vv..... Từ đó về sau, nhiều nhạc phẩm khác được chào đời
tại Pháp như "Bụi Ðời", "Người Trở Về" (1957, nhạc phim), "Tìm Lại
Ngày Xưa" (1958), "Phiêu Bạt" (1958), "Thề Non Nước" (1979, phổ thơ
Tản Ðà, báo Quê Mẹ, Pháp), "Xuân Về Nhớ Mãi Quê Hương" (1980, báo
Quê Mẹ, Pháp), "Sông Seine, Bao Giờ Ta Về Nước Nam" (1988, báo Quê
Mẹ, Pháp), "Chiều Vàng Bên Chợ Ðông Ba" (1988, báo Tiếng Sông Hương,
Virginia, Hoa Kỳ), "Quê Tôi" (1991, báo Tiếng Sông Hương, Hoa kỳ),
"Kiếp Giang Hồ" (1992, Dallas, Hoa kỳ). Những bản nhạc đều nói lên
nỗi buồn vô tận của nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên, lòng lúc nào cũng hướng
về quê hương và mơ một ngày mai tự do dân chủ tại Việt Nam. Khoảng
1990, tại Việt Nam, một tuyển tập nhạc Phật giáo gồm 25 bài do Lê
Mộng Nguyên viết trước năm 20 tuổi đã được Giáo hội Phật giáo Việt
Nam xuất bản. Bài nhạc "Mừng Khánh Ðản" (1948), "Thành Ðạo" (1949)
là những bản nhạc Phật giáo được thành công nhứt. Ca sĩ Phượng Bằng
đã có thu vào CD bài "Thành Ðạo" tại Hoa kỳ. Bài Mừng Khánh Ðản được
hát ở các chùa Phật giáo ở Hoa kỳ mỗi khi có tổ chức mừng Phật Ðản
vào giữa tháng 4.
Sự nghiệp dạy học luật pháp và chính trị
Sau khi đậu xong tú tài toàn phần tại Việt Nam, gia đình gởi ông đi
sang Pháp học luật. Ði tới Pháp bằng máy bay với hãng Air France vào
ngày 5 tháng 10, 1950 tại phi trường Orly, ông hãy còn là vị thành
niên (lúc đó 21 tuổi mới được coi là trưởng thành). Ông được ông
Nguyễn Khoa Nam bảo lãnh tại Paris. Lúc nào cũng có ý muốn học về
môn Harmonie (Hòa âm) tại Trường âm nhạc Paris. Nhưng rồi bỏ ý định
đó, quay sang học luật tại trường đại học luật Faculté de Droit et
de Sciences Economiques (Panthéon-Sorbonne), Paris quận 5. Tới năm
1954, ông đậu xong cử nhân luật. Từ năm 1955 tới năm 1958, ông được
mời làm tùy viên tòa đại sứ Việt Nam tại Paris (attaché de
l'Ambassade du Vietnam à Paris) dưới quyền của ông đại sứ Việt Nam
Phạm Duy Khiêm (anh của nhạc sĩ Phạm Duy). Rời khỏi lĩnh vực chính
trị, ông Lê Mộng Nguyên trở lại ghế nhà trường để tiếp tục học luật.
Ông thi đậu cuộc thi để được hành nghề luật sư (từ 1960 tới 1967).
Năm 1962, ông đậu tiến sĩ quốc gia (doctorat d' état) với ba bằng
cấp cao học về Droit public, Droit privé và Sciences Politiques. Tới
khi ông chán nghề cãi mướn, với bằng cấp tiến sĩ luật, ông được mời
dạy về luật hiến pháp (droit constitutionnel) và khoa học chính trị
(sciences politiques) tại trường đại học luật ở thành phố Besancon
(miền Ðông xứ Pháp) từ năm 1967 tới năm 1985. Sau đó ông trở về
Paris, và được mời dạy luật và khoa học chính trị tại trường đại học
Paris 8-Saint Denis từ 1985 tới 1997 (là năm ông về hưu).
Sự nghiệp văn chương
Ngoài luận án tiến sĩ quốc gia (Doctorat d'Etat) với chủ đề Classes
Sociales et Mouvements politiques au Vietnam de 1919 à 1939 được
giải thưởng Luận Án Ðại Học Paris năm 1963, Lê Mộng Nguyên đã cho in
và phổ thông (với tư cách Giáo sư, Luật sư tiến sĩ quốc gia chuyên
môn luật Hiến Pháp và Chính trị học), hơn 15 tác phẩm lược luận và
nghiên cứu như "La Constitution de la Vème République de Charles de
Gaulle à François Mitterrand (4ème édition, 1994, Ed. STH) (Hiến
pháp đệ ngũ cộng hòa từ Charles de Gaulle tới François Mitterrand),
"Les systèmes politiques démocratiques contemporains" (4ème édition,
1994, Ed. STH) (Những hệ thống chính trị dân chủ cận đại),
"Initiation au droit" (1996, Ed. L'Hermès) (Hành trình đi vào luật
pháp), "La Constitution de 1958" (1996, ed. L'Hermès) (Hiến Pháp
1958), "Le Budget de l'Etat" (1997, ed. L'Hermès) (Ngân Quỹ Quốc
Gia), "Finances Publiques" (1997, ed. L'Hermès) (Tài Chánh Công
Cộng) và trong 4 quyển sách tổng hợp: "Les agglomérations urbaines
dans les Pays du Tiers Monde" (1971, ed. de l'Institut de
Sociologie, Bruxelles, Bỉ ) (Vùng thành thị trong các quốc gia đệ
tam thế giới), "Le Vietnam au temps présent" (1992, Ðường Mới) (Xứ
Việt Nam đương thời), "Ðảng Cộng Sản trước thực trạng Việt Nam"
(1994, Ðường Mới), và "Những Vấn Ðề Cấp Thiết của Việt Nam" (1995,
Tiếng Gọi Dân Tộc xuất bản). Ðã viết hơn một trăm bài xã thuyết về
Hiến Pháp và Dân Chủ cho nhiều tạp chí Âu châu có tiếng tăm như
Revue du Droit Public, Civilisations, Echos de l'Edition Juridique
và trên các báo song ngữ Việt Pháp như Quê Mẹ, Tin Tức, hay l'Appel
de la Nation, hay Le Médecin du Vietnam. Lê Mộng Nguyên sẽ xuất bản
một tập thơ "Ðời Không Có Em " (1998) (gồm những bài thơ thời niên
thiếu, lúc tuổi hãy còn mộng mơ), và "Ombres et Lumières du Sud
lointain, Chroniques politiques et Contes Philosophiques asiatiques"
(1998) (Bóng Tối và Ánh Sáng của miền Nam xa xôi, Xã luận chính trị,
và truyện triết lý á châu) Ðược bầu làm Hội viên Hàn Lâm Viện Khoa
Học Hải Ngoại (Membre de l’Académie des Sciences d’Outre-Mer) kể từ
ngày 5 tháng 12, 1997, thay thế Cựu Hoàng Bảo Ðại. Trong phiên nhóm
ngày thứ sáu 5 tháng 12, 1997, Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại đã
bầu Lê Mộng Nguyên, đắc cử ngay từ vòng đầu với số phiếu 81trên 90.
Người được bầu vào Hàn Lâm Viện này phải có những tác phẩm được xuất
bản, những công trình nghiên cứu đáp ứng đường lối của hàn lâm viện
trong công cuộc phát triển văn hóa, khoa học, kinh tế, kỹ thuật hay
nhân loại của những quốc gia hải ngoại trong khối Pháp. Ông Lê Mộng
Nguyên là người Pháp gốc Việt đầu tiên được bầu làm hội viên chánh
thức (membre titulaire), có nghĩa là ông có thể được bầu làm chủ
tịch Hàn Lâm Viện này, và có quyền bầu để chọn người vào làm hội
viên. Trước đó, đã có một số người Việt làm hội viên như cụ Phạm
Quỳnh (membre correspondant) ông Phạm Duy Khiêm (cựu đại sứ Việt Nam
tại Pháp, và là ông anh của nhạc sĩ Phạm Duy, là hội viên liên lạc -
membre correspondant), ông Nguyễn Tiến Lãng (rể của cụ Phạm Quỳnh,
membre correspondant), cựu hoàng Bảo Đại (membre titulaire libre-hội
viên chánh thức tự do có nghĩa là hội viên thực thụ không thuộc chi
bộ (section) nào cả nhưng có quyền bỏ phiếu hay tranh cử bất cứ chức
vụ nào của Hàn Lâm Viện), và ông Thái Văn Kiểm (membre associé). Ông
Lê Mộng Nguyên từng là luật sư tòa án Paris, chính trị gia, cựu
ngoại giao, và cựu giáo sư-tiến sĩ quốc gia (Professor-Doctor), dạy
về luật hiến pháp và khoa học chính trị tại trường đại học luật
Paris-Assas (1962-1966), trường đại học Besancon (1967-1985), trường
đại học Paris 8-Saint Denis (1985-1997), và trường đại học Paris
3-Sorbonne nouvelle (1995-1996). Hiện giờ, ông vẫn tiếp tục làm việc
cho hội đồng khoa học của Groupe de Recherche sur l'Immigration du
Sud-Est Asiatique (Nhóm nghiên cứu về định cư Ðông Nam Á), giảng dạy
và thuyết trình tại Centre des Hautes Etudes sur l'Afrique et l'Asie
Modernes (Trung tâm Cao Ðẳng về Phi Châu và Á Châu Tân Thời), hay
tại các nơi huấn luyện các cán bộ cao cấp của các trường đại học ở
Pháp. Huân chương danh dự Ông Lê Mộng Nguyên đã được tưởng thưởng
nhũng huân chương: 1979: Chevalier des Palmes Académiques của Pháp.
1985: Officier des Palmes Académiques của Pháp.
biên soạn :
Trần Quang Hải
(Paris, tháng 01-1998)
Tài liệu tham khảo:
Trường Kỳ, 1997: Tuyển Tập Nghệ Sĩ, quyển
3, 368 trang, Montreal, Canada (xem tiểu sử Lê Mộng Nguyên, tr.
245-246 do Trần Quang Hải soạn) Journal Tin Tức, 1998: Lê Mộng
Nguyên à l'Académie des Sciences d'Outre Mer, numéro 66, janvier,
Paris, France Revue Echos de l'Edition Juridique, 1998: Lê Mông
Nguyên à l'Académie des Sciences d'Outre Mer, numéro 50, janvier,
Paris, France.
|
|
|