|
Dấu
Hỏi Ngã Trong Văn Chương Việt Nam
Bài của
giáo sư
CAO CHÁNH CƯƠNG
Trích tài liệu khóa Tu nghiệp Sư phạm 1991 Của các
Trường Việt ngữ Miền Nam Cali
Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú.
Một trong những nguồn phong phú vô ngần mà trên
thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu hỏi
ngã. Thật thế, dấu hỏi ngã trong tiếng Việt đóng
một vai trò quan trọng. Viết sai dấu hỏi ngã sẽ
làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn
chương và văn hóa Việt Nam. Chúng tôi xin đơn cử
một vài trường hợp như sau. Danh từ "nhân sĩ", chữ
sĩ phải được
viết bằng dấu ngã để mô tả một vị chính khách có
kiến thức văn hóa chính trị..., nhưng nếu vô tình
chúng ta viết "nhân sỉ", chữ sỉ với dấu hỏi thì ý
nghĩa của danh từ "nhân sĩ" sẽ bị đảo ngược lại,
vì chữ sĩ với dấu hỏi có nghĩa là nhục sĩ và như
vậy sẽ bị trái nghĩa hoàn toàn. Một chữ thông
thường khác như
là hai chữ "sửa chữa", nếu bỏ đi dấu hỏi ngã sẽ có
nhiều ý khác nhau: "sửa chữa" ("sửa" dấu hỏi,
"chữa" dấu ngã) tức là chúng ta "sửa" lại một cái
gì bị hư hỏng, thí dụ "sửa chữa xe hơi". Nhưng nếu
cho dấu ngã vào thành chữ "sữa" và dấu hỏi trên
chữ "chử a" tức có nghĩa là "sữa" của những người
đàn bà có thai nghén. Người sai lỗi nhiều nhất về
viết sai dấu hỏi ngã là người miền Nam và Trung
(người viết bài này là người miền Trung). May mắn
nhất là người thuộc miền Bắc khi sinh ra là nói và
viết dấu hỏi ngã không cần phải suy nghĩ gì cả.
Nhưng khốn nỗi có khi hỏi họ tại sao chữ này viết
dấu hỏi chữ kia lại đánh dấu ngã thì họ lại không
cắt nghĩa được mà chỉ nở một nụ cười trên môi .
Bài viết này nhằm mục đích đóng góp một vài qui
luật về dấu hỏi ngã của tiếng mẹ đẻ Việt Nam chúng
ta. Dấu hỏi ngã được căn cứ vào ba qui luật căn
bản: Luật bằng trắc, chữ Hán Việt và các qui luật
ngoại lệ.
A- LUẬT BẰNG TRẮC
Qui luật bằng trắc phải được hiểu theo ba qui ước
saụ
1.Luật lập láy Danh từ lập láy tức là một chữ có
nghĩa nhưng chữ ghép đi theo chữ kia không có
nghĩa gì cả. Thí dụ: "vui vẻ", chữ "vui" có nghĩa
mà chữ "vẻ" lại không nghĩa, chữ "mạnh mẽ", chữ
"mạnh" có nghĩa nhưng chữ "mẽ" lại không hề mang
một ý nghĩa nào hết, hoặc chữ "lặng lẽ", "vẻ
vang"...
2. Luật trắc Không dấu và dấu sắc đi theo với danh
từ lập láy thì chữ đó viết bằng dáu hỏi (ngang sắc
hỏi). Thí dụ: Hớn hở: chữ "hớn" có dấu sắc, thì
chữ "hở" phải là dấu hỏị Vui vẻ: chữ "vui" không
dấu, thì chữ "vẻ" đương nhiên phải dấu hỏị Hỏi
han: chữ "han" không dấu, như thế chữ "hỏi" phải
có
dấu hỏị Vớ vẩn: chữ "vớ" là dấu sắc thì chữ "vẩn"
phải có dấu hỏị Tương tự như mắng mỏ, ngớ ngẩn, hở
hang, ...
3. Luật bằng Dấu huyền và dấu nặng đi theo một
danh từ lập láy thì được viết bằng dấu ngã (huyền
nặng ngã). Thí dụ: Sẵn sàng: chữ "sàng" có dấu
huyền thì chữ "sẵn" phải là dấu ngã. Ngỡ ngàng:
chữ "ngàng" với dấu huyền thì chữ "ngỡ" phải để
dấu ngã. Mạnh mẽ: chữ "mạnh" có dấu nặng, do đó
chữ "mẽ" phải viết dấu ngã. Tương tự như các
trường hợp lặng lẽ, vững vàng,...
B. CHỮ HÁN VIỆT
Văn chương Việt Nam sử dụng rất nhiều từ Hán Việt,
chúng ta hay quen dùng hằng ngày nên cứ xem như là
tiếng Việt hoàn toàn. Thí dụ như các chữ thành
kiến, lữ hành, lãng du, viễn xứ ... tất cả đều do
chữ Hán mà rạ Đối với chữ Hán Việt được sử dụng
trong văn chương Việt Nam, luật về đánh dấu hỏi
ngã được qui định như sau: Tất cả những chữ Hán
Việt nào bắt đầu bằng các chữ D, L, V, M và N đều
viết bằng dấu ngã, các chữ Hán Việt khác không bắt
đầu bằng năm mẫu tự này sẽ được viết bằng dấu hỏị
Thí dụ: Dĩ vãng: hai chữ này phải viết dấu ngã vì
"dĩ vãng" không những là hán tự mà còn bắt đầu
bằng chữ D và V. Vĩ đại: "vĩ" có dấu ngã vì chữ
"vĩ" bắt đầu với mẫu tự V. Ngẫu nhiên: chữ "ngẫu"
dấu ngã vì áp dụng qui luật Hán Việt nói trên. Lẽ
phải: "lẽ" dấu ngã vì chữ L, phải dấu hỏi vì có
chữ P. Tư tưởng: chữ "tưởng" phải viết dấu hỏi vì
vần T đứng đầu. Tương tự như: lữ hành, vĩnh
viễn,...
Để có thể nhớ luật Hán tự dễ dàng, chúng tôi đặt
một câu châm ngôn như thế này: "Dó Là Vận Mệnh
Nước" đẻ dễ nhớ mỗi khi muốn sử dụng qui luật Hán
tự nói trên.
C. CÁC QUI ƯỚC KHÁC
1. Trạng từ (adverb) Các chữ về trạng từ thường
viết bằng dấu ngã. Thí dụ: Thôi thế cũng
được.Trạng từ "cũng" viết với dấu ngã. Xin anh
đừng trách em nữa .Trạng tự "nữa" viết với dấu
ngã. Chắc anh đã mệt lắm rồị Trạng từ "đã" viết
với dấu ngã.
2. Tên họ cá nhân và quốc gia Các họ của mỗi người
và tên của một quốc gia thường được viết bằng dấu
ngã. Thí dụ: Đỗ đình Tuân, Lữ đình Thông, Nguyễn
ngọc Yến... Các chữ Đỗ, Lữ, Nguyễn đều viết bằng
dấu ngã vì đây là danh xưng họ hàng. Nước Mỹ, A
phú Hãn,... Các chữ Mỹ và Hãn phải viết bằng dấu
ngã vì đây là tên của một quốc gia .
3. Thừa trừ
Một qui ước thừa trừ ta có thể dùng là đoán nghĩa
để áp dụng theo luật lập láy và bằng trắc nói
trên. Thí dụ: Anh bỏ em đi lẻ một mình. Chữ "lẻ"
viết dấu hỏi vì từ chữ "lẻ loi" mà ra, chữ "loi"
không dấu nên chữ "lẻ" viết với dấu hỏị Anh này
trông thật khỏe mạnh, chữ "khỏe" ở đây có dấu hỏi
vì do từ "khỏe khoắn" mà ra, "khoắn" dấu sắc thì
"khỏe" phải dấu hỏi .
D. KẾT LUẬN
Văn chương là linh hồn của nền văn hóa, viết sai
dấu hỏi ngã có thể làm sai lạc cả câu văn, đó là
chưa kể đến nhiều sự hiểu lầm tai hại cho chính
mình và người khác cũng như các việc trọng đại.
Không gì khó chịu cho bằng khi đọc một cuốn truyện
hay nhưng dấu hỏi ngã không được chỉnh tề. Một ký
gia? người miền Nam trong câu chuyện thân mật tại
một quán phở thược vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã
thành thật công nhận điều thiếu sót và tầm quan
trọng của dấu hỏi ngã trong văn chương Việt Nam.
Và cũng chính vị ký giả lão thành nói trên đã
khuyến khích chúng tôi viết bài này trong mục đích
làm sống lại sự phong phú của nền văn chương, văn
hóa Viẹt Nam chúng ta, nhất là đối với những thế
hệ trẻ hiện đang lưu lạc trên xứ người.
*~*
CAO CHÁNH CƯƠNG
Trích tài liệu khóa Tu nghiệp Sư phạm 1991 Của các
Trường Việt ngữ Miền Nam Cali
____________
Góp ý của AH
____________
ĐÂY là một tài liệu rất hay và bổ ích.
Tuy nhiên có vài chỗ AH thấy cần xác minh lại:
1/ Quy tắc chữ Hán Việt được áp dụng cho từ "lẽ
phải" trong lúc đây là từ Việt Nam thuần tuý .
2/ "Tất cả những chữ Hán Việt nào bắt đầu bằng các
chữ D, L, V, M và N đều viết bằng dấu ngã, các chữ
Hán Việt khác không bắt đầu bằng năm mẫu tự này sẽ
được viết bằng dấu hỏi" .
Điều này chỉ đúng có vế đầu . Những từ Hán Việt
không bắt đầu bằng D, L, V, M, N có thể có dấu hỏi
hoặc ngã bất kỳ. Thí dụ chữ Sĩ và chữ Sỉ như đã
dẫn ở trên dùng cả hai dấu tuỳ theo nghĩa . Tương
tự : hổ , hỗ; cửu, cữu; quỷ, quỹ, v.v...Các từ
hãn, tuẫn, trĩ, ... chỉ viết với dấu ngã. Cũng cần
nhấn mạnh là chữ D là D như trong Dã, Diễn, Dĩnh
... khác với Đ như trong Đả, Điển, Đỉnh ... nên
quy tắc nhớ "Dó Là Vận Mệnh Nước" có thể gây hiểu
sai lầm .
3/ Tên họ người và quốc gia dùng theo bản thân chữ
Hán Việt chứ không phải là bắt buộc phải dùng dấu
ngã . Ví dụ họ Sở, họ Giả , họ Đổng, họ Khổng , họ
Quản, v.v... dùng dấu hỏi .
4/ Quy luật tiếng lắp láy có vài ngoại lệ như từ
vỏn vẹn . Ngoài ra phải chú ý xác định từ nào là
từ lắp láy vì nếu không phải lắp láy thì không
đuọc dùng quy tắc này . Thí dụ: đầy đủ, mồ mả, mệt
mỏi, hùng hổ....
5/ Phần nhiều trạng từ có dấu ngã, nhưng trạng từ
phát xuất từ tính từ phải giữ nguyên dấu của tính
từ , thí dụ ĐỦ lớn, mua RẺ ... Trạng từ phát xuất
từ động từ có thể đổi dấu , thí dụ : NGỬA lưng với
nằm NGỮA (đúng ra cũng là nằm NGỬA, chỗ này AH lầm
. Pham Doanh), lá RỦ với buông rũ ...
AH không học chuyên về ngôn ngữ , chỉ nêu ý kiến
theo kinh nghiệm riêng của mình , nếu có gì sai
hoặc thiếu sót xin quý độc giả sửa chữa và bổ sung
cho.
Thành thật cám ơn.
AH
______________________
Góp ý của Pham Doanh
______________________
Các quy luật này đúng khoảng 90% nhưng chúng ta
cần để ý đến các ngoại lệ.
Trước đây PD cũng hay phạm lỗi chính tả, nhưng nhờ
có sự góp ý xây dựng của người đọc và PD không coi
sự góp ý đó là chỉ trích nên dần dần khá hơn,
nhưng vẫn chưa hoàn toàn không sai.
Bản thân PD bây giờ cũng phải tra tự điển mỗi khi
không chắc chắn.
|