|
Những chuyện trà dư
tửu hậu
Ghi chép của Người Ngoài Phố
Kỳ 9: Chú Rể Mắc Lừa !
Lời đầu: Những chuyện trà
dư tửu hậu được ghi chép lại từ ngoài đời. Có khi là ghi nhận trực tiếp,
có khi là ghi lại theo lời kể của người khác. Ðể tránh hiểu lầm hoặc va
chạm ngoài ý muốn, người viết đã tái phối trí dữ kiện và nhân vật; hy
vọng không vì thế mà làm hư ý chính.
Câu chuyện trà dư tửu hậu đêm nay của chúng tôi xoay quanh đề tài gái
Việt Nam lấy chồng Ðài Loan, với những tình tiết bi thảm do người trong
cuộc kể lại rồi được đăng nhan nhản trên báo chí. Nào là cô dâu được hứa
hẹn "nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa" sang đến nơi bị đẩy vào một
chỗ như ổ chuột, làm việc đầu tắt mặt tối như con ở. Nào là cô dâu bị
chồng hành hạ như súc vật, đánh đập thẳng tay thành thương tích, hàng
xóm chẳng ai can thiệp, bị nhà chồng giữ mất passport thành muốn về cũng
chẳng được v.v...
Giải thích rằng Saigon phiên âm ra tiếng phổ thông thành "Xi Cung", âm
Hán Việt là "Tây Cống", tiếng lóng là "Tây Kinh"; anh A xuất khẩu một
đoạn thơ Kiều thời đại:
Tú bà cùng Mã Giám Sinh,
Chuyên buôn người ở Tây Kinh đem về
Thúy Kiều tài sắc ai bì
Ðàn hay hát giỏi lại nghề văn chương...
Những câu thơ này ám chỉ những cảnh lừa đảo bi thương hơn nữa. Cô dâu
Việt Nam tưởng "không lấy chồng gần mà lại lấy chồng xa" thì sẽ có ngày
được vênh vang áo gấm về làng, ngờ đâu chồng tương lai là Mã Giám Sinh
đội lốt. Thế là bị ép thành Thúy Kiều của thời đại mới, phải tiếp khách
làng chơi cho "chồng" lấy cả vốn lẫn lời.
Giọng ngâm của A. trầm buồn khiến lòng chúng tôi không khỏi dấy lên một
nỗi bồi hồi, thương cho số phận những cô gái Việt bị đẩy vào nơi đầm lầy
nước đục ở đất lạ quê người.
Bỗng A. dừng lại, chuyển giọng thành câu hỏi:
-Nhưng này anh B, sao anh im lặng thế? Anh có ý kiến gì về vấn đề này?
Chúng tôi không hẹn mà cùng lúc hướng mắt chăm chú quay về hướng B.
chẳng là B được hãng Mỹ gửi sang Ðài Loan ở đó liên tục hơn sáu năm
trời, mới về lại cuối năm 2001. Vừa về đến nơi được một tháng, chưa hoàn
hồn thì anh nhận được ngay giấy đuổi việc; nhưng đó là một chuyện khác.
Ðiểm chính là vì ở ngay tại chỗ, chắc chắn B phải biết không nhiều thì
ít về những tệ trạng do các ông chồng Ðài Loan gây ra cho các nạn nhân
là cô dâu Việt Nam.
B ngần ngừ:
-Các anh đã biết là tôi tuổi Thiên Xứng, cái cân luôn luôn muốn tìm sự
thăng bằng. Chuyện liên quan đến việc "lấy chồng Ðài Loan" này thì dĩ
nhiên tôi có, nhưng chỉ sợ các anh nghe rồi không thích đấy thôi.
Chúng tôi nhao nhao:
-Gì mà thích với không thích? Ðây là lúc trà dư tửu hậu mà. Vả lại bọn
mình cùng là đàn ông con trai cả, có đụng chạm ai đâu mà sợ. Cứ kể đi.
Sau khi bắt chúng tôi đồng ý "nghe không thích thì bỏ", B bắt đầu kể.
Chuyện của anh là:
CHÚ RỂ MẮC LỪA
(chuyện kể của B)
Ai chẳng muốn lấy gái Việt Nam?
Tôi đồng ý với các bạn 100% là chắc chắn có nhiều vụ lừa đảo tàn nhẫn,
khiến bao nhiêu cô dâu Việt Nam lâm cảnh thân gái dặm trường, cắn răng
nuốt hận ở đất lạ Ðài Loan. Vấn đề nghiêm trọng này các nhà xã hội học
cũng những người cầm quyền cần phải tìm cách giải quyết mới được.
Nhưng tôi muốn nhắc lại một câu châm ngôn của muôn đời là "vấn đề nào
cũng có hai mặt". Chúng ta là người Việt Nam dĩ nhiên chỉ có cơ hội nhìn
thấy cái mặt Việt Nam của vấn đề thôi. Hơn nữa, trong cái mặt Việt Nam
ấy, chúng ta thường chỉ chú trọng đến những dữ kiện tệ hại. Ðây là một
hiện tượng rất tự nhiên, vì dữ kiện càng tệ hại càng tạo ấn tượng mạnh
mẽ trong tâm tư chúng ta.
Tôi tình cờ có cái duyên ở Ðài Loan, đủ lâu để bị một số người Ðài Loan
tưởng lầm là dân bản địa. Vì đó tôi trở thành một loại quan sát viên
tình cờ. Hai chữ "tình cờ" tôi nghĩ là rất quan trọng, vì khi đã cố ý
quan sát một hoàn cảnh, thì chính hành động quan sát tích cực của chúng
ta đã biến đổi hoàn cảnh đó đi rồi.
Ở Ðài Loan người ta lái xe rất bạo và cần nói thêm là rất chính xác. Tôi
có thể bạo chuyện khác nhưng chuyện lái xe thì rất bảo thủ. Còn lái xe
chính xác thì hiển nhiên là chẳng có tôi, vì đến bây giờ parallel
parking với tôi vẫn còn là cả một vấn đề. Bởi vậy mặc dù công ty cho
phép tôi mướn xe tự lái để dễ đi lại, trời bảo tôi cũng chẳng dám làm
chuyện ấy. Cách giải quyết của tôi là mướn một căn apartment gần nơi làm
việc, chỉ đi bộ 5 phút là đến nơi. Cần đi đâu khác thì tôi gọi tắc xi.
Như các bạn đã biết, các ông tắc xi bao giờ cũng thích ba hoa thiên địa.
Nhưng chẳng hiểu sao mặc dù số lần tôi đáp tắc xi ở Ðài Loan có đến hơn
trăm, chỉ một lần duy nhất đề tài "lấy vợ Việt Nam" được nhắc tới thôi.
Tôi còn nhớ lần đó tài xế tắc xi là một ông khá lớn tuổi, tóc bạc nhiều
hơn đen, có lẽ phải cỡ 60 hay 65. Ông hỏi tôi bằng giọng tò mò "Hình như
anh chưa vợ phải không?" Tôi đáp "Phải. Tôi chưa từng lấy vợ." Ông tỏ vẻ
ngạc nhiên "Sao thế? Anh cũng quá 40 rồi phải không?" Tôi trả lời
"Phải!"
Trầm ngâm một lát ông tắc xi bảo tôi: "Tôi hiểu. Phụ nữ Ðài Loan thời
nay thật quá lắm. Chẳng thùy mị dễ bảo như thời của tôi, thành thử anh
chưa dám lấy vợ cũng là có lý. Nhưng anh đã nghĩ đến việc sang Việt Nam
lấy vợ chưa?" Tôi giật mình hỏi lại: "Sang Việt Nam lấy vợ?" Ông tắc xi
già đáp chắc nịch: "Chứ sao! Người ta quảng cáo nhan nhản. Thùy mị, đoan
trang, tận tình lo lắng cho chồng cho con; chẳng phải nữ cường nhân như
các cô Ðài Loan, lại đồng văn hóa. Bao hết mọi thứ, kể cả vé máy bay,
đám cưới, khách sạn trăng mật; chỉ 300 ngàn đồng Ðài Loan mới!"
Ba trăm ngàn đồng Ðài Loan mới trong thời gian ấy tính ra khoảng 11 ngàn
đô la Mỹ. Vì Ðài Loan khó kiếm tiền hơn, số tiền này có lẽ tương đương
với 20 ngàn đô. Các bạn thử nghĩ, ở đây làm đám cưới không thôi phải tốn
15, hai chục ngàn đô; mà muốn làm đám cưới dĩ nhiên phải có người chịu
làm cô dâu trước đã. Ðằng này chỉ bỏ ra 20 ngàn đô vừa được du lịch một
nơi nổi tiếng nhiều thắng cảnh (tức đất nước Việt Nam), vừa có một người
đẹp theo về nâng khăn sửa túi cho mình. Hỏi có ông ế vợ nào nghe mà
không ham?
Một điểm nữa phải xin lỗi nói sau lưng các cô là đàn ông chúng tôi rất
lắm người háo sắc. Cần nói thêm là tôi dĩ nhiên cũng thế. Một nghịch lý
lạ lùng là mặc dù đa số dân Ðài Loan có gốc Phúc Kiến, mà Phúc Kiến thì
chính là đất Việt với người đẹp lừng danh kim cổ Tây Thi, tính trung
bình thì -theo tiêu chuẩn phàm phu tục tử của tôi- gái Ðài Loan có lẽ
xấu nhất Á châu. Tôi nghĩ quan điểm về cái đẹp của con người vốn đại
đồng tiểu dị, nên các ông Ðài Loan được xem thấy hình các cô Việt Nam
người ta đưa ra làm mẫu thì chắc phải mê chết đi thôi.
Gom tất cả dữ kiện lại, tôi nghĩ việc đàn ông Ðài Loan ùn ùn sang Việt
Nam lấy vợ hết sức bình thường và hợp lý. Riêng tôi, nếu vào hoàn cảnh
của họ chắc chắn tôi cũng làm y hệt như vậy!
Ổ chuột? Dĩ nhiên rồi!
Còn về cảnh "màn trời chiếu đất" của một số cô dâu, tôi nghĩ chúng ta
cũng cần nhìn từ mọi mặt. Chuyện cố ý lừa đảo thì chẳng nói làm gì, mặt
mà tôi muốn nói đến là thực tế của đời sống. Một lần kia tôi tình cờ đi
chung xe với một anh kỹ sư Ðài Loan. Có chuyện phải về nhà lục giấy tờ
gấp, anh không muốn tôi phải ở lại trong xe bèn mời tôi vào nhà dùng
nước trong khi chờ đợi. Ðến giờ mà tôi vẫn còn nhớ rõ cái nóng trưa hè
ầm ập của căn apartment nhỏ xíu dơ bẩn và dĩ nhiên không máy lạnh. Anh
bảo vợ cắt cho tôi mấy lát dưa hấu. Hình như dao cắt không sạch lắm, tôi
nuốt vào lợm giọng chỉ muốn ụa ra mà không dám vì sợ làm gia chủ buồn
lòng.
Thưa các bạn. Nếu muốn tôi có thể nói là lần đó tôi đã bị đẩy vào một "ổ
chuột". Chỉ khác là trước đó tôi đã chẳng bị người khác vẽ ra một hình
ảnh huy hoàng giả tạo, nên sau nửa tiếng trong cái "ổ chuột" đó tôi
không giận mà càng mến anh kỹ sư hơn xưa. Anh là hình ảnh tiêu biểu của
nước Ðài Loan mặc dù đã giàu mạnh nhưng mức sống của nhân dân vẫn chưa
thoát ra khỏi cái tiêu chuẩn thấp kém của thế giới đệ tam. Các bạn nào
có dịp đến kinh đô hoa lệ của Ðài Loan là Ðài Bắc rồi đáp tắc xi vòng
vòng xem thử thì sẽ thấy rất nhiều những buyn-đinh tồi tàn, đầy người
sống chen chúc. Vậy thì có gì đáng ngạc nhiên đâu nếu tòa "lâu đài tình
ái" mà cô dâu Việt Nam đã vẽ trong đầu trước khi đến Ðài Loan sụp vỡ
xuống thành một "ổ chuột" tối tăm?
Ấy, tôi đã tản mạn dài qua mất rồi. Thôi cứ coi đó như phần mào đầu của
câu chuyện mà tôi sẽ kể tiếp theo đây.
Khách sạn tuần trăng mật?
Ðó là năm 1996. Sau hơn hai mươi năm, cuối cùng thì tôi cũng tìm ra thời
giờ để làm một chuyến về Việt Nam đột xuất trong khi công tác ở Thái
Lan. Vì là đột xuất nên tôi chẳng chuẩn bị gì cả. Chỉ kịp vội vàng lên
tòa đại sứ VN ở Bangkok lấy chiếu khán rồi mua vé máy bay
Bangkok-Saigon, Saigon-Ðài Bắc. Mọi việc đành đến nơi tùy cơ ứng biến.
Mặc dù đã nghe người này người kia diễn tả từ trước, tôi vẫn chóa mắt
lòa người khi nhìn thấy đám đông hỗn độn bao vây lối ra ở phi trường Tân
Sơn Nhất. Cảnh chụp giật này các bạn đã dư biết rồi nên tôi chẳng cần kể
thêm làm gì. Cũng may nhờ đã từng sống lăn lóc 5 năm ở một trong những
thành phố chụp giật nguy hiểm nhất của Mỹ là Los Angeles, sau phút đầu
bỡ ngỡ tôi kịp thời phản ứng phù hợp ngay. Lạnh lùng xua đuổi xong vài
ông tỉnh bơ chụp cầm hành lý làm như có hẹn trước, tôi "chọn mặt gửi
vàng" một ông tuổi trạc 40, để ông tự do kéo lê chiếc va li cồng kềnh
của tôi lên chiếc tắc xi, đưa tôi về một khách sạn mà ông nói là "tuyệt
hảo".
Trái với lời quảng cáo tận tình của ông tắc xi, khách sạn là một tòa lầu
ọp ẹp, tính theo tiêu chuẩn quốc tế có lẽ chỉ đáng được cho một sao rưỡi
trên hệ thống từ tệ nhất là 1 sao đến sang cả nhất là 5 sao. Tiền phòng
thì 40 Mỹ kim một ngày. Nói theo kiểu Mỹ là "rip-off", kiểu Việt Nam là
"bóc lột tận tình" đấy. Nhưng tôi có một quy luật cá nhân là "có chơi có
chịu", tự mình rước họa vào thân thì trách ai. Thôi, ở 3 đêm mất 120 Mỹ
kim thì hãy cứ coi như đi sòng bài Reno thua có 120 đồng; thế vẫn là rẻ
chán!
Khách sạn một sao rưỡi này các phòng (tối thiểu phòng của tôi) chỉ có
cầu tiêu và bồn rửa mặt mà không có chỗ tắm. Khi muốn tắm tôi phải đến
một phòng xài chung ở cuối hành lang, trộn nước sôi và nước lạnh từ hai
vòi robinet vào một cái thùng tô nô, rồi dùng gáo múc nước xối lên
người. Xà phòng tắm thì có một cục cũ, xà phòng gội đầu thì không. Nhưng
chẳng hiểu sao sự thiếu tiện nghi này không khiến tôi bất mãn mà lại còn
thấy hơi thinh thích là đằng khác. Có thể vì nó giúp tôi nhớ lại thời
thơ ấu, cũng có thể vì con người luôn luôn có nhu cầu tìm những cảm giác
bất ngờ lạ lùng.
Nhưng mặc dù thiếu chỗ tắm, khi vừa bước vào phòng tôi phải chú ý ngay
đến cái giường vừa rộng lại vừa dài quá khổ trấn ngay vị trí trung tâm.
Chẳng phải là tôi chưa từng thấy cái giường nào quá to như vậy ở những
khách sạn mà tôi đã trú qua, nhưng những chiếc giường to quá khổ mà tôi
từng thấy đều ở trong những phòng rộng đắt tiền của các khách sạn tối
thiểu 4 sao, theo cái lý "người sang trọng ngủ chỗ mênh mông". Còn chiếc
giường này? Mặc dù thành của nó được đánh vẹc ni sậm giả màu gỗ gụ, gỗ
lim, nhưng chẳng cần tinh mắt cũng biết dưới lớp sơn đó là loại gỗ rẻ
tiền, lại choán quá nhiều chỗ, trông thật kệch cỡm thiếu thẩm mỹ.
Xem kỹ hơn, ở hai hông giường tôi thấy có hai chữ Tàu "Song Hỷ" bằng
giấy đỏ cắt vụng về và dán vào cẩu thả. À, thì ra giường này dành cho
các cặp vợ chồng mới cưới nên mới rộng như thế! Tôi gật gật đầu tự bằng
lòng với lời giải thích này.
Tôi khám phá ra thêm là trên bốn bức tường của căn phòng có dán và treo
đầy hình ảnh liên hệ đến Ðài Loan. Nào là hình tổng thống Lý Ðăng Huy
giơ tay ăn mừng thắng cử trước đám đông ủng hộ ông đông đến hàng trăm
ngàn người. Lại có những khẩu hiệu viết to "Tiến lên!" "Quyết thắng!"
cũng bằng chữ Tàu với dấu ấn màu xanh của Dân Chính Ðảng, tức là đảng
đối lập lại chính phủ lúc bấy giờ. Hiển nhiên, lối trang hoàng này nhắm
vào khách Ðài Loan. Vậy phải chăng dịch vụ chính của khách sạn này là
tiếp đãi các cặp vợ chồng Ðài Loan mới cưới nhau sang Việt Nam hưởng
tuần trăng mật?
Về sau nhớ lại tôi phải tức cười cho suy nghĩ ngây ngô của mình lúc ấy.
Tất cả đều quá hiển nhiên mà tại sao tôi chẳng đoán ra nhỉ? Phải chăng
vì ở Ðài Loan quen rồi, không khí Ðài Loan của căn phòng hóa ra quá bình
thường, thành thử tôi thấy tất cả mà cũng như mù?
Người lữ khách buồn
Chẳng dấu gì các bạn, hôm đầu tiên ở Saigon tôi quá bận theo chân N.,
một thổ công rành các thú ăn chơi mà một anh bạn đã giới thiệu từ trước,
nên ngoài những nhận xét trên, tôi chẳng biết trời trăng gì thêm nữa về
khách sạn này.
Ngày hôm sau dậy trễ, xuống lầu rồi vội vàng chạy ra ngoài tìm chỗ ăn
sáng tôi chỉ nhận ra mang máng hình ảnh một người đàn ông tuổi trạc 40
da xạm nắng khắc khổ ngồi ở sa lông phòng đợi, trên tay cầm một tờ báo
chữ Tàu.
Ðến ngày thứ ba, tức chỉ một ngày trước khi trở về Ðài Loan, tôi lại
thấy người đàn ông da xạm nắng ấy. Nhằm lúc có chút thời giờ, tôi quan
sát ông kỹ hơn. Linh tính cho tôi biết ông là người Ðài Loan. Có lẽ bị
thúc đẩy bởi ánh buồn buồn kỳ lạ trên mặt ông, tôi đến gần mở miệng hỏi
nhỏ bằng tiếng quan thoại:
-Thưa ông! Có phải ông là người Ðài Loan?
Người đàn ông vẫn cầm tờ báo ở vị trí cũ, chỉ ngẩng mặt lên một chút.
Khoảng cách không xa, nhìn được từng nét trên mặt, tôi càng chắc chắn
ông là người Ðài Loan. Nhưng ông không trả lời tôi mà nháy nháy mắt.
Thật kỳ lạ, vì bằng tín hiệu quốc tế này ý ông muốn bảo tôi rằng đây
không phải là chỗ tiện nói chuyện. Quay đầu chầm chậm nhìn qua thấy
người đàn ông làm việc ở quầy vẫn đang say sưa coi tập phim bộ có thuyết
minh trên TiVi, tôi đóng kịch tự nhiên cầm một tờ báo tiếng Việt trên
chiếc bàn thấp trước chiếc sa lông lên xem thoáng qua rồi bỏ xuống.
Người đàn ông da xạm cũng làm như tiếp tục đọc báo chăm chú như cũ.
Chiều hôm ấy N. bất ngờ bị bận không đến được. Thế mà lại hay vì như vậy
tôi mới có cơ hội thăm thú những con đường gần khách sạn. Saigon muôn
đời vẫn là Saigon, tấp nập đầy sức sống dù tôi thấy vài con đường đã đổi
bảng thay tên. Ðang say sưa vừa tản bộ vừa nhìn ngắm, mãi đến khi nghe
mấy chữ "xiến xâng, xiến xâng" (ông ơi, ông ơi) liên tiếp, giật mình
quay lại tôi mới nhận ra ngay sau lưng tôi là người đàn ông da xạm nắng
không muốn nói chuyện với tôi ở khách sạn. Từ đây tôi sẽ gọi ông là ông
W.
Khác với thái độ nghiêm trọng mà tôi đã thấy các lần trước, lần này trên
môi ông W. có điểm một nụ cười. Nhưng đó là loại nụ cười méo xệch của
người gắng tỏ ra vui trong cảnh buồn thương, tức là "hồn tang thương
trong mặt nạ tươi cười" như thơ Cao Tần nói đấy.
Ông W. nói với tôi bằng tiếng quan thoại:
-Gặp người đồng hương tôi mừng quá. Tôi phải tòng quyền bất lịch sự với
ông buổi sáng, mong ông đừng phiền. Vì quả thật tôi có chuyện rất muốn
nói với ông.
Chú rể mắc lừa
"Gặp người đồng hương?" Thế là lại thêm một người nhận lầm tôi là dân
Ðài Loan. Tôi toan đính chính là không phải. Nhưng ông W. bảo có chuyện
muốn nói với tôi. Từ thái độ của ông thì chuyện ấy phải nghiêm trọng và
có lẽ là lý do khiến ông phải tỏ ra tránh né tôi vào buổi sáng. Nhưng
chuyện gì nghiêm trọng mà lại liên hệ đến tôi, một người khách vô danh
về thăm lại quê hương? Óc tò mò khiến tôi quyết định im lặng.
Ði bộ một lát chúng tôi đã đến bến tàu. Tìm một chỗ nói chuyện mà không
sợ ai nghe chẳng khó khăn gì. Nhất là chúng tôi sẽ dùng tiếng quan
thoại; dù có tình cờ bị nghe thấy đi nữa thì chưa chắc đã bị người ta
hiểu, sợ gì.
Một số bạn sẽ tưởng tôi nói tiếng quan thoại như gió nên tôi xin thưa
ngay là không phải thế. Chỉ đủ diễn tả tư tưởng mà không đến nỗi quá lắp
bắp thôi. Vậy thì tại sao ông W. lại tưởng lầm tôi là người Ðài Loan? Lý
do hơi phức tạp nhưng có thể tóm lược thế này. Khi Tưởng Giới Thạch mất
đại lục phải chạy sang Ðài Loan năm 1949, họ Tưởng bắt toàn đảo phải học
tiếng quan thoại, xem đó là ngôn ngữ chính. Chính sách "bàn tay sắt" của
họ Tưởng rất hiệu nghiệm, nhưng miền nam vì xa trung ương khuynh hướng
chống tiếng quan thoại đến bây giờ vẫn còn rất mạnh. Nhiều người miền
Nam chỉ coi tiếng quan thoại như một sinh ngữ bắt buộc. Ông W. là một
điển hình của người miền Nam Ðài Loan. Có lẽ ông tưởng tôi là dân bắc.
Nhưng tưởng hay không tưởng thì trình độ quan thọai của ông e còn kém
hơn tôi; nên tôi nói quan thoại chẳng hay ho gì mà không lộ tẩy cũng
chẳng có gì là khó hiểu.
Có cảm tưởng an toàn rồi, ông W. hỏi tôi:
-Có phải ông sang đây để lấy vợ không?
Tôi giật bắn mình:
-Tại sao ông hỏi vậy?
-Thì còn gì nữa? Người Ðài Loan chúng ta sang đây chỉ hoặc làm ăn hoặc
lấy vợ. Vả lại, ông không sang đây để lấy vợ thì đã chẳng ở khách sạn
này.
Nghe thế tôi chợt hiểu. Thì ra dịch vụ của khách sạn này là bao chỗ cho
các cặp vợ Việt Nam chồng Ðài Loan mới lấy nhau. Tôi lắc đầu, giải thích
cho ông W. nghe rằng tôi quả còn độc thân, nhưng sang Việt Nam chỉ để du
lịch, không có ý lấy vợ, và tôi vào khách sạn này chỉ vì bị ông tắc xi
níu kéo.
Ông W. gật gật đầu:
-Thế thì vẫn chưa sao. Tôi đã muốn nói với ông từ khi gặp ông lần đầu.
Nhưng ông bao giờ cũng bận đi đây đi đó. Ông phải coi chừng. Kẻo bị họ
dụ vào tròng rồi đánh lừa như trường hợp của tôi!
Giờ thì tôi thật sự ngạc nhiên:
-Ông bị lừa? Lừa như thế nào?
Ông W. đáp bằng giọng buồn buồn:
-Nghĩ lại tôi thấy mình thật dại dột. Dân quê mà đòi lấy vợ đẹp bị ông
trời phạt cũng là phải. Nhưng bọn "hắc đạo" này thật là trắng trợn...
Cháy túi về không
Thế là ông W. kể câu chuyện của ông. Ông thú nhận ông là một nông dân
quê mùa, học chưa xong trung học nên tiếng quan thoại mới kém như thế.
Bát tự (tức số mạng dựa trên năm tháng ngày giờ) của ông lại xấu, thành
thử tuổi càng ngày càng cao mà chẳng được ai mai mối cho đám nào cả. Tết
vừa rồi ông lên 40 (tức 39 tuổi tây), họ hàng đâm lo lắng mới nghĩ ra
cách là gom tiền giúp ông để ông sang Việt Nam lấy vợ. Ông tâm sự:
-Thực ra tôi có đòi gì cao sang đâu. Chỉ mong tìm một người vợ hiền, hai
bên dựa nhau mà sống, sinh vài đứa con nuôi cho tụi nó ăn học lên người
để khỏi quê mùa như tôi. Nhưng bọn tổ chức đưa hình 5 cô để tôi chọn, cô
nào cũng đẹp như tiên nga. Ðàn ông ai mà chẳng háo sắc. Thành ra tôi mờ
mắt mất khôn. Sang đây vỡ ra mới biết chỉ là một trò lừa đảo.
Quay sang thấy tôi có ý chờ đợi, bằng giọng buồn buồn ông kể tiếp:
-Khi xem ảnh chọn người thì cả 5 cô đều từ 18 đến 20 tuổi, nhưng khi đến
nơi người mà họ đưa đến cho tôi xem mặt và bảo là cô dâu mà tôi đã chọn
lại là một bà tuổi trên dưới 40!
Tráo cô dâu như trong truyện Hồng Lâu mộng? Thật khó tin. Ông W. vẫn
tiếp:
-Chẳng phải là tôi nhất định phải lấy vợ thật trẻ. Nhưng một mục đích
của tôi lấy vợ là để sinh con. Bọn tổ chức biết thế vì một yêu cầu của
tôi là cô dâu phải thuộc giòng không hiếm muộn. Họ biết chắc là dù quê
mùa như tôi cũng không chịu lấy bà 40 tuổi này, vì tuổi ấy làm sao có
con. Không những thế bà này qua người thông ngôn lại yêu sách đủ thứ,
bắt cả ký tên chứng nhận đồng ý. Cãi nhau một lát, bà này bỏ đi rồi tôi
mới hiểu ra ý của họ...
-Ý ông muốn nói...???
-Còn gì nữa. Họ cố ý đưa đến một người mà tôi không thể chấp nhận, ý
tưởng lừa đảo quá rõ ràng. Cho là tôi mở miệng chịu lấy bà này đi nữa,
tôi nghĩ rồi họ cũng trặt trẹo sang chuyện khác. Tiền thì họ đã lấy hết
còn đâu...
Tôi định hỏi ông W. sao lại ngây thơ vậy, ai lại đưa hết tiền trước khi
nhận hàng. Nhưng nghĩ lại ông là "nhà quê lên tỉnh" thì không ngây thơ
sao được. Quả nhiên, ông kể rằng khế ước ban đầu có vẻ rất hợp lý. Trả
nửa tiền trước; sang Việt Nam gặp cô dâu, lấy nhau rồi mới trả phần hai.
Nhưng khi ông đến nơi họ viện một việc khẩn cấp nào đó khiến cô dâu
không đến kịp mà muốn giữ chỗ tiệc tùng vân vân thì phải cần tiền. Họ
nói ngọt quá, còn ông thì cả tin, thành thử mới ra cớ sự.
Tôi hỏi ông tình hình hiện đang phát triển ra sao. Ông nói hai bên đang
chiến tranh lạnh, nhưng ông không thể ở đây lâu thêm nữa:
-Họ bảo lỗi là ở tôi đổi ý không chịu cô dâu nên không được lấy tiền
lại. Vé máy bay thì đã định ngày sẵn. Họ bảo vì đây là chuyến bao
(charter), muốn đổi ngày tôi phải trả thêm rất nhiều tiền. Thú thật tôi
cũng chẳng muốn về Ðài Loan ngay bây giờ. Tôi nghĩ đến những người họ
hàng tốt bụng đã góp thêm tiền cho tôi cưới vợ, tưởng là sẽ được tiếp
tôi và cô dâu mới ở phi trường. Khi gặp họ tôi ăn nói làm sao. Trong khi
chờ đợi, thì khách sạn bao tôi ăn ở như trong khế ước. Nhưng mà ngay cả
chuyện này họ cũng lươn lẹo tối đa. Anh không tin cứ đi qua phòng đợi
vào giờ ăn thì sẽ thấy...
Vì một người quen cũ đi ngang tình cờ đến nhận ra tôi, cuộc nói chuyện
giữa ông W. và tôi đến đấy là hết. Ðến tối, khoảng 7 rưỡi tối, trong khi
đang hút thuốc ngoài đường gần cửa ra vào, tôi thấy ba khúc bánh mì thịt
được giao tới và đặt trên chiếc bàn thấp trước bộ sa lông trong phòng
đợi. Hai người đàn ông ngồi ở sa lông, trong đó có ông W., mỗi người cầm
một ổ, dáng điệu miễn cưỡng nhưng rồi cũng đưa lên miệng nhai nhồm
nhoàm. Tôi nhớ lại những lời cuối của ông W. ban chiều. Bánh mì thịt
Việt Nam không dở, nhưng trên công thợ và chất liệu thì thuộc loại món
ăn rẻ tiền. Ăn tối bằng bánh mì thịt thì thật là... Chẳng lẽ đây là ý
nghĩa của câu "bao ăn ở" mà khách sạn này đã quảng cáo ở Ðài Loan trong
chương trình "lấy vợ Việt Nam" của họ? Nếu thế thì quả là lừa đảo trắng
trợn thật.
Tôi cũng thắc mắc. Người đàn ông thứ hai cùng ăn bánh mì thịt với ông W.
là ai? Một "chú rể Ðài Loan" khác chăng? Ba ổ bánh mì thịt, vậy phải
chăng còn có một nạn nhân thứ ba nữa mà tôi chưa gặp mặt? Bấy nhiêu câu
hỏi ấy xoay trong đầu, theo đuổi tôi ngay cả khi tôi chìm vào giấc ngủ
đêm cuối cùng trước khi trở lại Ðài Loan.
Thêm một chú rể mắc lừa?
Tôi dự định sáng hôm sau trước khi đi tìm cách nói chuyện thêm với ông W
thêm một lần nữa vì 12 giờ N. mới đến chở tôi ra phi trường. Ngờ đâu N.
nảy ra ý lạ đến sớm, bảo tôi thanh toán tiền phòng khách sạn, rồi chở
thẳng tôi vào một chỗ bia ôm. Vì chúng tôi uống say sưa với "các em" mà
tôi suýt trễ chuyến bay; và dĩ nhiên là tôi say khướt, máy bay đến phi
trường Ðài Bắc rồi đi đứng vẫn còn lạng quạng. Vậy là duyên gặp gỡ giữa
ông W. và tôi chỉ có lần nói chuyện ngắn ngủi ấy thôi.
Người ta bảo "chẳng ai nhớ nỗi bất hạnh của kẻ gặp bên đường", có lẽ
đúng. Nhưng tôi còn nhớ chuyện ông W. nhờ có thêm một chuyện tình cờ xảy
ra sau đó không lâu. Nguyên là tôi biết một quán ăn mà tôi sẽ gọi là
quán Y. Quán này là quán cóc, chỉ có năm bảy bàn, nhưng có vài món ăn
tương đối hợp khẩu vị Việt Nam nên khi nào trở về Ðài Loan tôi gần như
luôn luôn ăn tối ở đó.
Khoảng vài ba tuần sau chuyến đi Việt Nam nói trên, một bữa kia trong
kia ăn tối trong quán Y tôi tình cờ nghe thấy mẩu đối thoại sau đây giữa
hai thanh niên vọng sang từ bàn bên cạnh. Dĩ nhiên cuộc đàm thoại này
bằng tiếng quan thoại, tôi tạm dịch như sau:
Anh thanh niên thứ nhất hỏi:
-Ủa? M. đó hả? Ngồi chung đây đi. Biệt tích giang hồ cũng mấy tháng rồi
đấy nhé. Hưởng tuần trăng mật với bà xã Việt Nam đẹp như tiên nên quên
hết anh em rồi phải không?
Anh thanh niên thứ hai đính chính:
-Mới về tới nơi thôi mà, trách làm chi. Nhưng bà xã tôi không phải người
Việt Nam mà là người Quảng Ðông!
-Sao nghe ông chủ nói anh đi Việt Nam lấy vợ. Ông ấy còn thêm là vợ anh
đẹp như Dương Quý Phi!
Các bạn cần chú ý, ở Ðài Loan đừng so sánh người đẹp ở Ðài Loan với Tây
Thi. Ở đó hai chữ "Tây Thi" có nghĩa rất tệ hại, không phải gái giang hồ
cũng là loại lẳng lơ, trắc nết. Mà đã lỡ nói phái yếu thì cũng phải thêm
phái mạnh cho huề. Ðừng dùng chữ "Ngưu lang" để chỉ một cậu bảnh trai. Ở
Ðài Loan "Ngưu Lang" tiếng lóng là đĩ đực đấy.
Trở lại câu chuyện. Nghe anh thứ nhất ca tụng cô gái Việt Nam tưởng sẽ
là vợ của mình, anh thứ hai thở dài tỏ ra ngao ngán:
-Thì cũng tưởng vậy. Ai ngờ bị lừa. Tưởng đi một về hai hóa ra mất tiền
mà chẳng được gì cả!
-Có chuyện ghê gớm vậy à? Vậy sau đó anh làm sao?
-Thì như anh đã biết, tôi đã nhất định lấy vợ để có căn bản làm ăn, nên
bị lừa xong thì kêu về làm khổ ông anh, bắt lo thêm tiền. Không được vợ
Việt Nam thì lấy đỡ vợ Quảng Ðông vậy. Bà xã tôi không đẹp như gái Việt
Nam, nhưng cũng hiền thục, vả lại tiếng quan thoại cũng khá nên hai vợ
chồng hiểu được nhau.
-Xin mừng cho anh. Nhưng anh nói chuyện lấy vợ Việt Nam bị lừa nghe sao
ghê quá. Khiến thằng em này đang tính theo bước chân anh, bây giờ chùn
lại hết...
Mẩu đối thoại đại khái chỉ có thế nhưng nó khiến câu chuyện kể của ông
W. sống động trở lại trong đầu óc tôi. Hơn nữa, nó cho tôi một dữ kiện
mới, sau kiểm chứng thêm thành chắc chắn. Chuyện lấy chồng Ðài Loan
chẳng phải là đặc thù của Việt Nam, ở hoa lục cũng nhan nhản. Hoa lục
lại đang bị nạn trai thừa gái thiếu trầm trọng vì hậu quả chính sách "đẻ
một con" của chính phủ nên các bạn có thể tưởng tượng những anh ế vợ ở
hoa lục căm hận các ông "nhà giàu Ðài Loan" thế nào. Tôi nghĩ là hơn xa
cái ghét của chúng ta.
Vậy thì ai là thủ phạm, ai là nạn nhân trong vụ "lấy chồng Ðài Loan"?
Tôi xin trở lại với quan điểm rất Thiên Xứng của tôi là vấn đề nào cũng
có hai mặt, và ta đừng nên vội trăm dâu đổ đầu tằm, vơ đũa cả nắm kết
tội mấy ông Ðài Loan mà tội nghiệp cho những người cũng như chúng ta,
chỉ mơ một mái ấm gia đình với con thảo vợ hiền.
Lời cuối
Chuyện của B đến đây là hết. Kể xong anh xin phép có việc phải đi ngay.
Chúng tôi còn lại năm bảy người bàn tán xôn xao. Có người đặt giả thuyết
rằng B mắc bệnh căn bản của những người đi xa, về phải có chuyện "nói
dối làm quà". Tóm lại chuyện của B. là bịa. Giả thuyết này cũng có lý,
vì nếu khách sạn đã làm chuyện lừa đảo ám muội như vậy, tại sao lại nhận
một ông khách không cưới vợ như B để có thể sinh ra nguy cơ đổ bể. Nhưng
người chống lại cho rằng việc cho B vào ở chỉ có nghĩa những kẻ lừa đảo
kia chẳng tìm được mấy nạn nhân, nên phải gỡ gạc thêm tiền bằng cách cho
người thường mướn phòng trống.
Nghe qua nghe lại thấy người theo kẻ chống đều có lý, cuối cùng chủ nhà
kết luận:
-Ðiểm chính là bây giờ đã khuya. Cãi nhau mãi cũng thế thôi. Vả lại đây
chỉ là chuyện trà dư tửu hậu thôi mà, sai hay đúng thì cũng có chết ai
đâu?
Nhờ lời giải thích này, chúng tôi chấm dứt "trận bão trong chén trà",
vui vẻ ai về nhà nấy./
San José 23 tháng 4, 2004
Người Ngoài Phố
|