|
Những chuyện trà dư
tửu hậu
Ghi chép của Người Ngoài Phố
Kỳ 8: Chưởng Môn
Lời đầu: Những chuyện trà
dư tửu hậu được ghi chép lại từ ngoài đời. Có khi là ghi nhận trực tiếp,
có khi là ghi lại theo lời kể của người khác. Ðể tránh hiểu lầm hoặc va
chạm ngoài ý muốn, người viết đã tái phối trí dữ kiện và nhân vật; hy
vọng không vì thế mà làm hư ý chính.
Lần này là chuyện kể của một anh bạn tự nhận là đã từng theo đuổi nghề
võ lâu năm, về một bí mật của làng võ Việt Nam mà anh tự nhận là tình cờ
được biết.
* *
Chuông điện thoại reo. Tôi thật ngạc nhiên khi nghe ra giọng X ở đầu bên
kia.
Chẳng phải là tôi và X. không biết nhau; phải nói là chúng tôi "quá biết
nhau", tức là biết nhau lắm và chạm nhau cũng nhiều. Thật chẳng có lý do
gì để X. tra ra số điện thoại rồi gọi cho tôi!
"Tôi đang ở tiệm phở P..." X nói.
À ra thế. Ông chủ tiệm phở P. và tôi là chỗ quen biết lâu năm. Tôi đoán
X. hỏi ông ra số điện thoại của tôi. Nhưng tôi vẫn thắc mắc về lý do cú
điện thoại... trong khi X tiếp tục:
"...Ông phải ra đây ngay, vì tôi đang ngồi với võ sư T. Ông ấy tình cờ
đi ngang vùng này. Ðúng! Dĩ nhiên là võ sư T. chưởng môn chi phái Việt
Nam của võ A. Tôi nói dối ông làm gì? Ra đây gấp đi!..."
Liên hệ giữa tôi và X vốn đã luôn luôn kỳ cục, không phải bạn mà cũng
chẳng phải thù, tùy trường hợp mà ứng biến; cho nên chỉ mười phút sau
khi cúp điện thoại tôi đã có mặt ở phở P. Ðến nơi nhìn lại đồng hồ là 3
giờ, quá trễ cho bữa ăn trưa chủ nhật nên chỉ thấy X và một người đàn
ông lớn tuổi nhưng tráng kiện ngồi ở một bàn cạnh cửa ra vào. Khỏi cần
nói tôi cũng đoán ra người đàn ông ấy là võ sư TÐT.
Tôi đưa cả hai tay bắt tay ông và gọi ông bằng bác. Nhưng ông chê tôi là
khách sáo. "Làng võ trong thời đại mới cũng như làng văn vâäy. Anh hiểu
không? Anh cứ gọi tôi bằng anh, xưng tôi cho thân mật."
Cung kính không bằng tuân mệnh, tôi đổi cách xưng hô. Biết rằng võ sư T.
đã trên 70, tôi thầm phục nét mặt thật hồng hào khỏe mạnh của ông. Thật
là may mắn cho tôi, tưởng ông chỉ chuyên nghề quăng quật không ngờ lại
có nhiều câu trả lời thật lạ lùng cho những câu hỏi liên hệ đến nội
công; giúp tôi giải quyết nhiều bế tắc.
Nhưng nếu đây chỉ là một cuộc giải đáp vấn nạn võ học thì tôi đã chẳng
kể lại làm gì cho mỏi tai các bạn. Nguyên khi tôi mới lớn lên võ sư T.
đã lừng danh trong làng võ Việt Nam. Theo những gì tôi được đọc thì ông
là một trong những đệ tử đầu tiên của tổ sư môn phái X. của Nhật Bản.
Phái này sau lừng danh thế giới. Ðược chân truyền của tổ sư, nhiệm vụ
của ông là dùng Việt Nam làm bàn đạp để phổ biến môn phái X. khắp Ðông
Nam Á.
Với sự trợ giúp tận tình của chính phủ Nhật Bản, ai cũng nghĩ chẳng bao
lâu các võ đường của phái X sẽ tràn ngập Việt Nam. Nhưng thực tế trái
hẳn lại. Cho đến bây giờ, sau bao nhiêu cuộc đổi đời dâu bể, ở Việt Nam
phái X hình như chưa từng có một lần khởi sắc. Ðây đã luôn luôn là một
bí mật lớn của làng võ Việt Nam, và lần này nó là thắc mắc lớn nhất mà
tôi táo bạo đặt ra trước võ sư T.
Nghe xong thắc mắc của tôi, võ sư T. thở dài một tiếng. Mắt nhìn qua cửa
kính ra đường, như muốn trở về một quá khứ xa xôi, ông bắt đầu lên tiếng
kể. Chuyện của ông là:
VỊ CHƯỞNG MÔN MIỄN CƯỠNG
(chuyện kể của võ sư T.)
Tầm sư học đạo
Tôi biết tôi sắp lìa cõi đời này. Người sắp ra đi luôn luôn có những suy
nghĩ đắn đo kỳ lạ. Trước đây tôi đã nghĩ hãy để cho sự thật ló dần với
thời gian, chẳng lên tiếng làm gì. Nhưng phải chăng hôm nay là một cơ
duyên giúp tôi giải tỏa cái gánh nặng đã đè lên vai tôi mấy mươi năm nay
để tôi được thêm thanh thản phút ra đi?
Khi kể một câu chuyện kéo dài hơn một hai năm người ta thường bỏ đoạn
đầu, chỉ giữ đoạn giữa và đoạn kết; nhưng trong trường hợp câu chuyện
của tôi; chỉ có đoạn đầu và đoạn kết là quan trọng nên tôi sẽ chỉ tập
trung vào hai đoạn này mà thôi.
Chuyện của tôi dĩ nhiên bắt đầu mấy mươi năm về trước. Nghĩ lại, tôi là
một người may mắn hiếm có. Trong khung cảnh đất nước sục sôi bất ổn lại
được thỏa mộng ước thanh niên, ra nước ngoài tầm sư học đạo.
Trên đường sang Nhật Bản, chiếc tàu chở tôi ghé đảo Ðài Loan vài ngày.
Khi ấy hòn đảo này còn rất quê mùa lạc hậu, thua cả Việt Nam ta. Ở tuổi
thanh niên hiếu động lại không có chuyện gì làm, ngày nào tôi cũng lên
bờ, đi lang thang khắp nơi, tối khuya mới trở về tàu.
Hôm ấy là ngày cuối trước khi tàu nhổ neo, bước chân vô định đưa tôi vào
một lối rẽ. Lần theo con đường mòn, khung cảnh càng lúc càng hoang vắng;
nhưng là cái hoang vắng an bình, khiến ta vô cùng thoải mái. Có lẽ vì
vậy mà tôi quên cả thời gian; đã đến giữa trưa mặt trời đứng bóng mà
không hay biết.
Ðang thả hồn trong cái an bình tịch liêu của miền thôn dã, tôi bỗng nghe
thấy tiếng động lạ. Theo đúng phản ứng của con nhà võ, tôi ngã người
xuống rồi lăn vào, núp sau một bụi cây bên đường.
Ẩn nấp an toàn rồi, dõi mắt về phía phát ra tiếng động tôi thấy một
người đàn ông tuổi khoảng 50, 55 đứng trước một lều tranh nhỏ. Thì ra
nơi hoang vắng thế này vẫn có người ở!
Vị võ sư hiếu khách ở Ðài Loan
Từ động tác của người đàn ông, tôi biết là ông đang luyện võ. Chân ông
đứng khoảng cách bằng vai. Hai tay ông đưa ra phía trước. Người ông xiên
xiên, đầu trước chân sau, tưởng như muốn té xấp về phía trước mà lại
không té. Trong tư thế đó ông đứng gần như bất động, nhưng thỉnh thoảng
lại phát ra một tiếng thở lớn. Ðây chính là tiếng động lạ mà tôi nghe
thấy lúc nãy.
Ông võ sư -từ đây tôi sẽ gọi ông như thế để tỏ sự kính trọng, rồi các
bạn sẽ hiểu tại sao- lại mở miệng, nhưng lần này không phải để thở lớn
tiếng như cũ. Tôi nghe thấy lời ông rõ mồn một bằng tiếng Quảng Ðông:
-Này anh bạn trẻ. Còn núp làm gì? Cứ tự nhiên ra đi!
Thật quả là một tình cờ vì tiếng Quảng là thổ ngữ duy nhất mà tôi biết
bập bẹ nhờ học lóm bạn bè từ khi còn nhỏ. Nghe ông võ sư nói thế biết là
tông tích đã bại lộ, tôi rời chỗ núp, cung kính nói vài câu xin lỗi. Ðại
khái tôi trình bày hoàn cảnh, trên đường đi Nhật Bản, tàu bỏ neo ngoài
bãi, tình cờ theo đường vắng vào đây, không ngờ nơi này có cao thủ thành
thử phạm tội lén xem học võ, xin tha thứ.
Ông võ sư cười xuề xòa. Ông bảo tôi võ của ông trọng sự luyện tập, chẳng
có "bí quyết" gì để dấu, nên tôi chẳng có tội gì. Ông tỏ ra rất thích
thú vì tôi biết tiếng Quảng "Ở đảo này người ta chỉ nói tiếng Mân Nam,
nghe anh hiểu và nói được tiếng Quảng tôi tưởng như tha hương ngộ cố
nhân vậy," ông giải thích.
Tôi đã nghe người Quảng Ðông hiếu khách như người miền Nam Việt Nam. Ông
võ sư là một minh chứng hùng hồn. Tôi chỉ là kẻ qua đường, lại chỉ là
một thanh niên mới lớn vô danh tiểu tốt, thế mà ông tiếp đãi thật nồng
hậu. Nghe tôi trên đường sang Nhật Bản học võ, ông khen "Tuổi trẻ chí
lớn. Ðáng phục!" Ðoán là tôi đã đói, ông kéo tôi vào túp lều tranh, dọn
cơm ép tôi dùng chung với ông. Bữa cơm chay thanh đạm mà có tình người
nên thật ngon miệng, tôi chẳng khách sáo gì ăn một loạt hết 5 bát to. Ăn
uống no nê rồi, không dám phiền ông nữa tôi xin phép cáo từ, với lời hứa
là khi học thành tài thế nào cũng ghé thăm ông.
Trở lại chốn xưa
Thời gian qua nhanh hơn sự tưởng tượng của con người. Mới đấy mà đã mười
mấy năm. Tôi và ông võ sư tay bắt mặt mừng. Có lẽ ông không ngờ tôi còn
giữ lời hứa cũ đến thăm ông hôm nay.
Trừ mái tóc đã phai theo năm tháng, ông vẫn tráng kiện chẳng khác lần
gặp cũ bao nhiêu, và vẫn hiếu khách y hệt. Ông ân cần hỏi:
-Ngày xưa anh hứa khi thành tài sẽ đến thăm tôi. Bây giờ mười mấy năm
sau anh đến thăm, ắt hẳn võ công đã thành tựu lớn rồi?
Tôi hãnh diện thưa với ông rằng tôi đã được chân truyền môn võ A.
"Võ A?!" Ông võ sư ra vẻ ngạc nhiên; "Sao tôi chưa từng nghe thấy môn
phái này bao giờ?"
"Thưa thầy. Thầy chưa nghe là phải," tôi cung kính đáp; "Vì A. là một
môn phái mới, chưa từng xuất hiện trước đây!"
Không muốn tỏ ra khoe khoang nên tôi không thêm rằng võ phái A mặc dù
mới nhưng đã tức thì tạo nhiều tiếng vang trên thế giới, và cá nhân tôi
đã nhận trọng trách phổ biến nó thật rộng rãi ở Ðông Nam Á.
Sau buổi trà đàm và bữa cơm chay thân mật, tôi thầm nghĩ với vai trò bận
rộn là chưởng môn chi phái Ðông Nam Á của võ A, có lẽ lần tới tôi trở
lại Ðài Loan cũng phải mười mấy năm nữa. Mặc dù ông võ sư còn tráng
kiện, nhưng với những bất trắc của thời gian và thế cuộc, biết có còn
được thấy nhau nữa không. Nghĩ thế rồi tôi nảy ra một ý, bèn thưa với
ông rằng:
-Nếu thầy không chê tôi tài nghệ thô thiển, tôi xin diễn vài thế của võ
A nhờ thầy xem thử ra sao!
Ngôn ngữ khách sáo nhưng tôi có ý thành thật là chuộc lại phần nào cái
lỗi vô tình xem lén ông tập võ mười mấy năm trước đây. Nghe tôi nói thế,
ông võ sư mừng ra mặt. Ông dùng câu "sóng sau đè sóng trước" (hậu lãng
thôi tiền lãng) với ý mời tôi bắt đầu.
Không khách sáo nữa, tôi đứng trước sân, xuống tấn định đi một bài quyền
trung cấp. Nhưng rồi lại nghĩ; dẫu tuổi tác cách xa nhưng đã là duyên
tri kỷ, vả không chắc còn gặp lại nhau thì giữ kẽ làm gì. Thế là tôi hú
lên một tiếng, tập trung tinh lực, thi triển một trong những bài quyền
cao cấp nhất của môn phái. Bài quyền này rất phức tạp, có phần chậm,
phần nhanh đổi bước nhau.
Kỳ nhân võ học!
Ði xong hơn nửa bài quyền, đang ở phần chậm tôi bỗng nghe một linh tính
lạ kỳ, làm như bị ai đè nén khiến các đòn thế phát xuất ra rất khó. Cảm
giác này không thoáng qua rồi hết, mà cứ kéo dài. Nó bắt buộc tôi dù
không muốn mà vẫn phải quay đầu quanh quất tìm nguyên nhân.
Thật không ngờ nguyên nhân là ông võ sư người Quảng. Ông không chỉ đứng
thụ động nhìn tôi đi bài quyền, mà tay chân ông liên tục ướm nhẹ những
động tác, kiểu như một võ sinh đợi đến lượt, đang đứng ở chỗ chật chội
ôn những thế đánh trước khi ra thi lên đai vậy.
Tôi lấy làm lạ vì những động tác của ông có vẻ như mô phỏng bài quyền mà
tôi đang đánh. Chẳng lẽ ông thấy bài quyền tôi đánh hay quá bèn học lóm?
Ai cũng biết học lóm võ là điều tối kỵ. Dù chỉ là một võ sư "vườn" đi
nữa, đã hiểu luật giang hồ của làng võ thì có lý nào ông lại dám học lóm
võ của tôi một cách trắng trợn như vậy?
Nhưng nỗi nghi ngờ này vừa dấy lên trong đầu tôi đã tan biến ngay vì tôi
khám phá ra rằng không phải ông võ sư đang mô phỏng tôi. Những thế ướm
của ông có một nét hoàn chỉnh, nhất quán kỳ lạ; nói giống bài quyền tôi
đang đi thì có phần đúng, nhưng nói ông mô phỏng tôi thì hiển nhiên là
sai. Trái lại, phải nói là những thế đánh của tôi chỉ là âm bản nghèo
nàn của những thế mà ông đang ướm vào không khí. Một cao thủ ở ngoài
quan sát lúc này ắt sẽ phải nghĩ ông và tôi cùng môn phái, tôi đang đi
một bài quyền còn ông đang ôn một bài quyền tương tự nhưng ở cấp cao
hơn.
Thấy tôi khựng người, ông võ sư lên tiếng trong khi tay chân vẫn tiếp
tục những động tác lạ lùng:
-Anh có thể đi những thế cao hơn cho tôi thấy được không?
Câu hỏi của ông khiến người tôi đờ cứng. Tôi lắp bắp mãi mới nói thành
tiếng:
-Thưa thầy. Những gì nãy giờ thầy thấy là tất cả tinh hoa của tôi rồi
đó! Tôi chẳng còn gì cao hơn nữa!
Không hỏi tiếp nữa, ông võ sư bỏ nơi đứng, đi lại gần tôi. Khi đã đến
trước mặt, bất thần ông vung tay đấm thẳng một cú thần tốc vào mặt tôi.
Không uổng bao nhiêu năm khổ luyện; mặc dù bị tấn công bất ngờ, tôi kịp
thời né ngang rất đúng thế. Chỉ trong nháy mắt một tay tôi đã chụp trúng
cổ tay ông võ sư. Hai tay phối hợp nương theo đà đấm. Trong võ đường,
ngay cả các bạn võ sư cao cấp cùng trình độ với tôi mà bị tôi đưa vào
hoàn cảnh này cũng phải chịu nếm mùi thảm bại. Ðánh càng mạnh thì khi bị
khắc chế càng đau đớn, tai hại. Ðây là bí quyết "tá lực đả lực" đã khiến
võ A. lừng danh mau chóng.
Không ngờ đời có những chuyện ngoài sức tưởng tượng của con người. Trái
với phản ứng bình thường mà tôi đã luôn luôn gặp ở đối thủ, ông võ sư
chẳng gượng chống gì với tôi, mà tiếp tục đứng ở cái thế xiên xiên quái
đản mà tôi thấy trong lần tình cờ xem lén đầu tiên. Thế coi nghiêng ngả
vậy mà ông vững như bàn thạch. Còn tôi, một hai phút sau, tôi vẫn thấy
mình mồ hôi vã ra như tắm, lôi kéo ông tuyệt vọng như con châu chấu đang
đòi kéo một cái xe.
Ðược nghe khẩu quyết Thái Cực Ðường Lang!
Các bạn hẳn đã xem những màn biểu diễn nội công, năm sáu người lôi kéo
một người mà không nổi chứ? Xét bằng vật lý thì có vẻ bịp phải không?
Trò bịp thì bao giờ chẳng có, nhưng tôi xin thưa ngay với các bạn rằng
nếu ông võ sư người Quảng ngày xưa mà đứng ở đây thì tôi e cả mười người
cũng chẳng lôi cho ông nhúc nhích được. Sau này tôi nghiên cứu ra, mới
biết sự kiện này chẳng có gì là phản khoa học; chỉ hơi khó giải thích
một tí thôi.
Năm sáu người mà còn lôi kéo không nổi, nói gì lúc ấy chỉ có mình tôi.
Ðang lúc tuyệt vọng rã rời, tôi nghe tiếng ông võ sư vọng bên tai:
-Thân pháp tuyệt hảo. Rất tiếc không có nội công. Gặp cường địch e thảm
bại mà thôi...
Thú thực trước ngày hôm ấy, nếu ai nói hai chữ "nội công" với tôi tôi sẽ
cho ngay là nhảm nhí. Nhưng trăm ngàn lý thuyết chẳng thể qua mặt một
kinh nghiệm. Nghĩ lại tôi phải cám ơn trời đất đã cho tôi cái dịp mở mắt
ngày hôm ấy.
Ðột nhiên người ông võ sư trượt ra khỏi tay tôi, rồi như không biết là
có tôi trước mặt, ông lại vào thế luyện công giống như tôi đã thấy lần
đầu mười mấy năm trước. Ðiểm khác biệt quan trọng là lần này vừa cử động
ông vừa lâm râm đọc những câu ngắn, đại khái như:
"Thái cực đường lang, nội công chủ yếu, cước như bàn thạch, thiết tý
tung hoành..."
Các bạn hẳn đã đọc tiểu thuyết Kim Dung. Trong truyện "Cô gái đồ long",
đoạn đầu lúc Giác Viễn thiền sư sắp chết có đọc ra quyển "Cửu Dương chân
kinh"; Trương Quân Bảo và Quách Tường là hai người được nghe, mỗi người
ngộ một cách khác nhau nên lập ra hai phái khác nhau là Võ Ðang là Nga
Mi. Hoàn cảnh của tôi lúc ấy cũng tương tự như Trương Quân Bảo và Quách
Tường. Với kiến thức võ học đã tích tụ nhiều năm, mặc dù hoàn toàn mù
tịt nội công tôi cũng biết ngay ông võ sư đang đọc bài khẩu quyết nội
công cao đẳng của "Thái Cực Ðường Lang", tức là ông đã mang công phu của
môn phái trình bày cặn kẽ cho tôi.
Người mê võ mà học được biết một công phu mới lạ thì sướng chẳng khác gì
lên thiên đàng. Nhất là đây lại là một công phu cao đẳng mà có người cho
là huyền thoại, có kẻ tưởng đã thất truyền. Nên trong lúc ấy tôi quên
hẳn thân phận mình sắp là chưởng môn chi phái Ðông Nam Á của võ A.; vừa
nhìn theo những động tác của ông võ sư, vừa say sưa lẩm bẩm đọc lại
những khẩu quyết. Thật may, bài khẩu quyết này không dài, lại được ông
võ sư lập lại mấy lần. Ðến khi tôi vừa chắc là mình đã nhớ thì làm như
đọc được ý tôi, ông dừng tay. Không còn nghi ngờ gì nữa, ông muốn chỉ
điểm cho tôi mà không muốn tôi mang tiếng là đệ tử của ông nên cố ý bày
ra trò này.
Tôi chẳng cần nói thêm đoạn kết của cuộc thăm viếng này làm gì vì chi
tiết các bạn có thể đã đoán được. Chúng tôi thật bịn rịn lúc chia tay,
một vì chẳng biết bao giờ gặp lại, hai vì mặc dù chẳng thể nói ra, nếu
nói "nhất tự vi sư bán tự vi sư" thì tôi và ông đã thêm nghĩa thầy trò
nữa.
Ngày tàn của một chi phái!
Mấy tháng sau đó người tôi lúc nào cũng bần thần như lên cơn sốt. Võ
đường đã thành lập ở trung tâm thành phố. Thanh niên nam nữ ghi danh học
ùn ùn mà lòng tôi sao chẳng thấy một chút gì vui. Cậu em họ R. đến Nhật
Bản sau nhưng cũng được chân truyền như tôi nào biết lòng tôi rối bời.
Cậu nói: "Anh T. Chẳng bao lâu nữa, anh em ta sẽ làm rạng danh sư tổ,
phái A. sẽ lừng danh Ðông Nam Á!" Khi nghe vậy tôi chỉ biết giả lả cười
gượng. Lúc ấy làm sao tôi dám vẽ lại cho R. bức tranh mà tôi đã hoàn
thành bằng cách ghép những mảnh dữ kiện rời khít lại vào nhau.
Nhưng đó là mấy mươi năm về trước, giờ thì những gì tôi biết R cũng đã
biết hết rồi; nên tôi cũng chẳng sợ phạm môn quy khi nói những chuyện
này ra.
Trước hết, xin giải thích rằng môn mà ông võ sư người Quảng biểu diễn
cho tôi học là Thái Cực Ðường Lang. Như các bạn ghiền phim Tàu đều biết,
Ðường Lang là con bọ ngựa. Thái Cực Ðường Lang là môn võ mô phỏng những
động tác của con bọ ngựa. Vũ khí đáng sợ nhất của con bọ ngựa là đôi
chân trước. Ứng với người học võ là đôi tay. Thế nên Thái Cực Ðường Lang
-mà từ đây tôi sẽ gọi tắt là TCÐL cho ngắn gọn- lấy cầm nã làm căn bản.
Nhưng muốn cầm nã mà không có nội công, gặp đối thủ có thể lực mạnh thì
coi như gặp khắc tinh rồi. Thế nên bí quyết của TCÐL nằm cả ở nội công.
Tập TCÐL mà không có nội công thì mới chỉ là biết ngoài da mà thôi. Ðây
cũng chính là một lý do khiến TCÐL không mấy phổ biến, vì nạn dấu nghề
khiến môn võ cao cấp này chỉ còn hình thức đòn thế mà đã mất đi thực
chất nội công của nó.
Thì ra, chẳng hiểu vì một hay nhiều tình cờ nào đó, mà nền tảng của môn
phái A. gần như y hệt nền tảng của TCÐL, nhưng với một thiếu sót to lớn;
vì nó hoàn toàn không có nội công. Tôi chẳng cần nói nhiều các bạn cũng
đủ hiểu là người học môn phái A. mà gặp đối thủ được chân truyền TCÐL
thì phần thua coi như nắm chắc trong tay.
Nỗi phân vân lớn của tôi xảy ra sau khi tôi tự tập nội công theo bí
quyết học được của ông võ sư người Quảng. Ấn chứng được sự thật rồi,
thay vì giải quyết được vấn đề tôi lại sinh hoang mang thêm. Tôi không
thể chỉ dạy môn võ A. rồi thêm bí quyết nội công của TCÐL, vì xét kỹ lại
hai hệ thống này không hoàn toàn giống nhau. Nhưng nếu tôi cố biến đổi
môn võ A. theo TCÐL thì làm sao hay bằng dạy hẳn TCÐL từ đầu? Mà dạy
TCÐL từ đầu thì đâu còn là dạy võ A. nữa!!!
Thú thật, nếu có sự chọn lựa thì tôi đã bỏ môn võ A. để chuyên luyện và
dạy TCÐL rồi; nhất là sau khi tôi khám phá ra rằng các võ đường TCÐL ở
VN chỉ dạy "ngoài da" theo ý nghĩa mà tôi đã trình bày ở trên. Nhưng khi
được tổ sư phái A. nhận làm đệ tử, tôi đã có phát một lời nguyện là phục
vụ võ phái suốt đời. Vậy thì tôi phải làm sao?
Cuối cùng tôi chỉ nghĩ ra một cách giải quyết để không mang tội lỗi với
lương tâm. Sự phát triển của một môn phái mới luôn luôn lệ thuộc vào số
môn sinh đai đen được đào tạo ở địa phương. Trong khi các môn phái khác
võ sinh đai đen càng lúc càng đông, riêng môn phái A. mà tôi làm chưởng
môn thì gần như ai lên đai đen xong một thời gian là nghỉ. Lý do rất dễ
hiểu. Tôi vẫn chăm chỉ làm trọn nhiệm vụ dạy và phổ biến võ A., nhưng
mỗi khi có võ sinh vừa đậu đai đen, tôi sẽ nói riêng với võ sinh đó đại
khái như sau: "Môn võ A. không có hại, mà rất có lợi cho sức khỏe. Nhưng
nếu nghĩ đến việc dùng nó để đánh nhau thì không nên. Và nếu gặp khắc
tinh thì sẽ thất bại chua cay." Giả như bạn là một môn sinh trẻ tuổi,
vừa lên đai đen, với hùng khí thanh niên mơ một ngày tung hoành trong
làng võ, nghe thế bạn còn muốn tiếp tục học môn phái A. không?
Giờ thì chắc các bạn đã hiểu tại sao môn phái A. chưa từng khởi sắc ở
Việt Nam, chứ đừng nói gì đến Ðông Nam Á...
Lời cuối
Câu chuyện kể của võ sư T. đến đây chấm dứt. Ðoạn cuối của cuộc gặp gỡ
ông kể về vài kinh nghiệm nội công; nhưng nói chung là tiểu tiết.
Vài năm trước, tình cờ nghe tin ông qua đời, tôi bồi hồi khi nhớ lại lần
gặp đầu tiên và cũng là cuối cùng ấy; tính ra đã quá 5 năm. Cộng cả hai
mốc thời gian mới biết đã gần 10 năm rồi. Thì ra với tôi thời gian cũng
đã trôi qua nhanh quá.
Tôi còn nhớ khi kết thúc câu chuyện, trên mặt ông có hai nét vui buồn
tương phản nhau. Cái vui của ông dễ đoán, vì như ông nói ông đã có một
chọn lựa can đảm không vướng bận lương tâm. Ông buồn thì cũng quá phải,
vì lâm vào cái thế kẹt cả đời như ông kể, tôi nghĩ không muốn buồn cũng
không được.
Ðã có lúc tôi nghĩ, nếu ông T. không gặp ông võ sư Thái Cực Ðường Lang
người Quảng Ðông kia thì sao nhỉ? Có lẽ làng võ Việt Nam đã khác hẳn,
với môn phái A. tung hoành cờ xí khắp nơi? Nếu thế thì cuộc gặp gỡ của
ông quả là một sự an bài bất hạnh. Nhưng nghĩ thêm nữa tôi lại thấy mình
sai. Tối thiểu ông T. có cái hạnh phúc -dù là cái hạnh phúc có nhuốm đau
buồn- của kẻ biết sự thật. Nó khác hẳn cái hạnh phúc giả tạo của kẻ ếch
ngồi đáy giếng coi trời bằng vung.
Còn riêng bản thân tôi? Tôi cám ơn câu chuyện của võ sư T. vì một lý do
khác. Nó cho tôi cái cảm giác mang mác, rằng một cuộc gặp gỡ mà ta tưởng
là thoáng qua, lắm khi có thể thay đổi hết cả một đời người.
San Jose ngày 16 tháng 4, 2004
Người Ngoài Phố
|