|
Những chuyện trà dư tửu
hậu
Ghi chép của Người Ngoài Phố
Kỳ 3: Anh Hùng
Lời đầu: Những chuyện trà dư tửu hậu được ghi chép lại từ ngoài đời. Có
khi là ghi nhận trực tiếp, có khi là ghi lại theo lời kể của người khác.
Ðể tránh hiểu lầm hoặc va chạm ngoài ý muốn, người viết đã tái phối trí
dữ kiện và nhân vật; hy vọng không vì thế mà làm hư ý chính.
Chuyện sau này do một người tạm gọi là anh A. kể lại. Chữ "tôi" trong
câu chuyện có nghĩa là anh A.
ÐƯỢC LÀM VUA THUA LÀM GIẶC!
(chuyện kể của anh A)
Một chuyến thăm chùa Bạch Vân ở Quảng Châu
Hồi đó tôi còn là đại diện kỹ thuật cho một công ty Hoa Kỳ ở Á Châu.
Công việc đòi hỏi tôi thỉnh thoảng phải sang Ðông Quan, một thị trấn
thuộc tỉnh Quảng Ðông của Hoa Lục.
Có bạn đọc sẽ hỏi "Ðông Quan à? Tên gì nghe lạ hoắc vậy?" Mà quả Ðông
Quan lạ hoắc thật. Ngay cả ở lục địa, Ðông Quan cũng chỉ được biết đến
trong khoảng 10 năm trở lại đây nhờ kế hoạch cởi mở kinh tế, với những
đặc quyền cho các hãng ngoại quốc để lôi kéo họ vào đầu tư. Như trong
trường hợp của tôi, nếu không vì khách hàng của tôi là hãng TDK (Nhật
Bản) có xưởng chế tạo hard drive ở đây thì có lẽ chẳng bao giờ tôi ghé
chân đến thành phố này.
Nhưng nói bấy nhiêu về Ðông Quan là đủ rồi, vì câu chuyện tôi sắp kể
chẳng dính líu gì đến Ðông Quan, mà dính líu hơn đến Quảng Châu, thành
phố được mệnh danh trong lịch sử là thủ phủ của Giang Nam.
Lần đó đến Ðông Quan giải quyết không xong vấn đề phải ở lại ngày chủ
nhật, nghe nói Quảng Châu chỉ cách Ðông Quan một tiếng lái xe, tôi quyết
định bao một chiếc xe có tài xế của khách sạn để đi Quảng Châu thăm một
lần cho biết.
Anh tài xế không biết nói tiếng Anh, nhưng vì cả hai chúng tôi đều bập
bẹ một chút quan thoại nên vẫn hiểu nhau. Anh hỏi tôi muốn xem gì ở
Quảng Châu. Tôi trả lời muốn xem danh lam thắng cảnh, như chùa chiền,
đền miếu cũ chẳng hạn.
Xe chạy một lát thì cơn mệt mỏi tụ lại từ những chuyến đi liên tiếp và
những ngày làm việc nhiều giờ khiến tôi ngủ thiếp đi. Khi tỉnh dậy tôi
thấy xe đang leo núi, hỏi ra mới biết đã đến Quảng Châu, và đang ở trên
đường lên đỉnh núi Bạch Vân, nơi có chùa Bạch Vân nổi tiếng.
Chuyến đi thăm chùa Bạch Vân cho tôi những phút giây thoải mái, nhưng
không lưu lại cho tôi một ấn tượng đặc biệt nào. Nếu bây giờ bạn nhờ tôi
diễn tả chùa Bạch Vân lại cho bạn nghe, thú thật tôi đành chịu thua vì
không nhớ gì cả.
Ðại tướng cờ đen Lưu Vĩnh Phúc!
Nhưng tôi lại nhớ rằng ngày đó có rất nhiều thiện nam tín nữ đi chùa, có
lẽ vì là chủ nhật. Mải nhìn người qua lại, tôi và anh tài xế lạc nhau
lúc nào không biết. Ði vòng vòng trong và xung quanh chùa tìm anh không
ra, tôi lần ra mé ngoài, khá xa chùa. Nơi đây người qua lại lác đác, anh
tài xế lại mặc complet cà vạt theo đúng luật khách sạn khác với người
thường, nên tôi nhận ra được ngay là anh đang đứng ở xa, cũng ngó ngược
ngó xuôi có lẽ tìm kiếm tôi.
Chưa kịp lên tiếng gọi, tôi thấy anh đột ngột dừng lại trước một phiến
đá khá cao rồi chắp tay van vái, dáng vẻ rất nghiêm trang. Ðoán đây là
một di tích thiêng liêng của chùa, tôi không dám quấy nhiễu, chờ anh vái
xong mới đến gần. Thấy tôi anh mừng quá, nói "Tiên sinh. Tôi thật có lỗi
để ông bị lạc. Bây giờ ta đi thôi, còn nhiều thắng cảnh khác để xem."
Vừa đi về phía đậu xe tôi vừa hỏi cho có chuyện về gốc tích của phiến đá
mà anh tài xế vừa cung kính lễ bái. Anh trả lời "Thưa, trên tảng đá đó
có thủ bút của một anh hùng xứ Quảng Ðông, nên tôi van vái để tỏ sự kính
trọng ngài." Tôi tò mò: "Vị anh hùng ấy đại danh là gì?" Anh lễ phép
đáp: "Thưa ông, là hắc kỳ đại tướng quân Lưu Vĩnh Phúc!"
Tôi giật bắn mình hỏi lại: "Hắc kỳ đại tướng quân Lưu Vĩnh Phúc?" Anh
tài xế gật đầu: "Thưa ông, quả đúng vậy. Những chữ trên tảng đá ấy là
thủ bút của đại tướng Lưu Vĩnh Phúc của Thái Bình Thiên Quốc!"
Theo lịch sử Hồng Tú Toàn tự xưng là con thứ hai của thượng đế, khởi
binh lập Thái Bình Thiên Quốc năm 1851. Năm 1853 thì chiếm được Nam Kinh
gọi là kinh đô, "vạch đôi sơn hà" xưng vương ở phương Nam tranh hùng với
nhà Thanh. Mặc dù bị bối rối bởi cuộc phản công của Tăng Quốc Phiên ở
vài nơi khác, trận chiến quyết định là ở Thượng Hải. Với sự khác biệt về
lực lượng, ai cũng tưởng rằng Thái Bình Thiên Quốc sẽ chiếm Thượng Hải
như lấy đồ trong túi, rồi trong tình trạng hỗn loạn tận cùng có thể thừa
thắng tiến về phương Bắc chiếm Bắc Kinh, chấm dứt triều đại của nhà
Thanh.
Nhưng lịch sử có những diễn biến ngoài sức dự liệu của con người. Ðầu
năm 1862, trong khi Thượng Hải đang nín thở chờ cuộc tổng tấn công vũ
bão của quân đội Thái Bình Thiên Quốc, thì trận bão tuyết được mệnh danh
là "lớn nhất lịch sử" xảy ra vào ngày 26 tháng 1, rồi kéo dài trên 58
tiếng đồng hồ. Khi trận bão này chấm dứt, Thượng Hải và những vùng lân
cận đắm chìm trong biển tuyết. Tệ hơn nữa nhiệt độ hạ xuống đến -12 độ
C. Ðạo quân Thái Bình Thiên Quốc đa số là dân phương nam làm sao chịu
nổi khí hậu cay nghiệt này. Kết quả cuộc tổng tấn công hoàn toàn thất
bại. Phần còn lại, như người ta hay nói "đã là lịch sử", Hồng Tú Toàn
chết bệnh ngày 1 tháng 6 năm 1864, và Thái Bình Thiên Quốc hoàn toàn tan
rã vào tháng 10 cũng năm này.
Trong khi Thái Bình Thiên Quốc xưng hùng ở phương Nam, từ cách tổ chức
quân đội theo lý ngũ hành có thể đoán ra được vị trí hết sức quan trọng
của ông Lưu Vĩnh Phúc, vì ông đường đường là thủ lãnh một trong 5 màu cờ
(đen, tượng nước), tức là tư lệnh một vùng quân sự. Tối thiểu theo giai
thoại dã sử thì Quảng Ðông chi bảo Hoàng Phi Hùng (tức nhân vật Hoàng
Phi Hùng trong các phim bộ Hồng Kông) cũng theo phò dưới trướng Lưu Vĩnh
Phúc; và Lưu Vĩnh Phúc có dự tính nhờ Hoàng Phi Hùng tham dự mặt trận
phương Nam, giúp nước ta chống lại cuộc xâm lăng của Pháp. Dĩ nhiên
những dự tính đó đều tan theo mây khói khi Thái Bình Thiên Quốc tan rã.
Ðược làm vua thua làm giặc!
Bất giác tôi nhớ lại hơn 30 năm trước khi chuẩn bị thi tiểu học và rồi
đệ thất đã phải học thuộc như vẹt những đoạn "Giặc Cờ Ðen, Cờ Trắng, Cờ
Vàng là dư đảng của Thái Bình Thiên Quốc tràn sang cướp bóc khiến dân
chúng vô cùng khốn khổ...", và rồi "Quân giặc cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc
lại phục kích quân Pháp ở Ô Cầu Giấy lần thứ hai, lần này giết được đại
tá Henri Rivière..."
Gần đây tôi đọc ở đâu đó rằng năm 1895, khi nhà Thanh thua trận cắt
nhượng Ðài Loan cho Nhật, một số nhân sĩ Ðài Loan đã đứng lên, tuyên bố
Ðài Loan là một nước tự chủ, chống lại cuộc tiếp thu của Nhật. Người đảm
nhận chức tư lệnh quân đội Ðài Loan chống lại Nhật cũng chính là Lưu
Vĩnh Phúc. Nhưng trước sức mạnh cơ giới của Nhật, quân Ðài Loan tan vỡ
mau chóng; từ đó tông tích của Lưu Vĩnh Phúc không còn ai biết nữa.
Thì ra vì Thái Bình Thiên Quốc tan rã, rồi giấc mơ tái khởi ở Ðài Loan
không thành, mà ông tướng một thời Lưu Vĩnh Phúc, với công lao hãn mã
giúp triều đình nhà Nguyễn cho quân Pháp mấy phen mất mật bay hồn, vẫn
bị sử Việt ghi lại là "tướng giặc cờ đen". Sử gia của những người một
thời cùng phe với ông Phúc mà còn tàn nhẫn như thế, thì còn nói gì đến
những người khác. Thế mới biết câu "được làm vua thua làm giặc" là chân
lý của muôn đời.
Ai kẻ anh hùng?
Ý nghĩ ấy khiến tôi cảm khái dừng chân, tò mò quay mặt lại nhìn. Trước
phiến đá giờ đã cách chỗ chúng tôi đứng khoảng 5, 7 thước tôi thấy một
cặp nam nữ rất trẻ đang van vái, thái độ của họ cũng cung kính như anh
tài xế lúc nãy. Ðợi cặp trai gái vái xong, tôi vừa đưa tay ra dấu cho
anh tài xế đừng đi vội, vừa bước trở lại trước phiến đá. Hiểu ý tôi, anh
lẽo đẽo theo sau.
Cũng như anh tài xế và cặp nam nữ lúc nãy, tôi cũng đứng, cũng vái hương
hồn ông Lưu Vĩnh Phúc; nhưng điều mà tôi thực sự muốn làm xem ông đã
viết gì trên phiến đá lịch sử ấy.
Ở tuổi tôi mắt bị đủ thứ bệnh, những chữ Hán trên phiến đá lại nhỏ và
không viết theo lối chân phương, nhưng vì cố ý tìm kiếm nên tôi vẫn nhận
ra được ba chữ Lưu Vĩnh Phúc trong hàng cuối cùng. Còn bài văn khá dài ở
trên thì với khả năng nhận diện chữ Hán không mấy thành thạo của tôi,
phải nhìn thật gần và cần nhiều thời gian mới mong định được nội dung.
Nhưng đến thật gần dí mắt vào nhìn lại sợ phạm tội bất kính; thành thử
tôi cứ đứng chỗ cũ chăm chăm nhìn những dòng chữ chi chít như kẻ bị thôi
miên. Những dòng chữ chi chít ấy, thoạt nhìn qua tưởng là được viết bằng
sơn đỏ, nhưng nhờ nhìn chăm chăm như thế mà tôi nhận ra là có nét khắc ở
dưới. Thì ra lớp sơn đỏ là do người đời sau tô lên cho chữ dễ đọc hơn,
còn bản văn nguyên thủy thì đã được khắc vào đá.
Người khắc chữ lên đá là ai? Dĩ nhiên phải là Lưu Vĩnh Phúc, tối thiểu
nếu tôi hỏi anh tài xế, câu trả lời chắc chắn sẽ là như thế.
Vốn lớn lên trong thế hệ bị ảnh hưởng nặng nề bởi Kim Dung, Cổ Long, tôi
nghĩ ngay đến hai chữ "nội công". Người thường cũng có thể dùng vật sắc
nhọn để khắc một vài chữ lên đá, nhưng muốn khắc nguyên một bản văn dài
như tôi đang thấy trước mắt thì công lực của người khắc chữ tất phải ở
mức thượng thừa.
Trong đầu tôi lúc ấy làm như hiện ra thật rõ ràng hình ảnh một người đàn
ông cao lớn, dáng hơi thô như nhân vật Kiều Phong của "lục mạch thần
kiếm", mắt u buồn mà lăm lăm cương quyết, tay trì dao trủy thủ, vận nội
công khắc lên đá những dòng tâm huyết để lại cho đời sau, kể lại một
thời giang sơn nghiêng ngửa, ghi lại cái quyết tâm chuyển xoay thời
cuộc. Chuyện thật xảy ra hơn trăm năm trước thế nào thì tôi dĩ nhiên
không biết; nhưng hình ảnh tưởng tượng ấy thật hào hùng làm sao.
Chuyến viếng thăm Quảng Châu lần ấy còn kéo dài nhiều giờ nữa và có thêm
nhiều khám phá lý thú; nhưng nếu bạn hỏi những khám phá lý thú ấy là gì
thì tôi sẽ lúng túng. Có lẽ vì tiềm thức tôi đã cố ý hy sinh mọi hình
ảnh khác trong lần đi ấy, chỉ để một hình ảnh duy nhất được ghi đậm rõ
nét suốt đời. Ðến bây giờ, nhiều khi bật dậy giữa đêm khuya tôi cứ tưởng
mình vừa lên chùa Bạch Vân; rồi trong đầu tôi lại hiện ra hình ảnh ông
Lưu Vĩnh Phúc vận công khắc lời thề trên đá, như cốt nhắc nhở tôi và
muôn vạn những người khác "chớ đem thành bại luận anh hùng".
San José 29 tháng 1, 2004
Người Ngoài Phố
|