|
Những chuyện trà dư tửu
hậu
Ghi chép của Người Ngoài Phố
Kỳ 2: Chuyện chỉ kể đêm giao thừa
-
THIÊN LINH CÁI
-
CHUYỆN NGƯỜI TỰ HỌC THIỀN
Lời đầu: Những chuyện trà dư tửu hậu được ghi chép lại từ ngoài đời. Có
khi là ghi nhận trực tiếp, có khi là ghi lại theo lời kể của người khác.
Ðể tránh hiểu lầm hoặc va chạm ngoài ý muốn, người viết đã tái phối trí
dữ kiện và nhân vật; hy vọng không vì thế mà làm hư ý chính.
Ðó là một đêm đầu năm tây 1987, nhưng theo lịch ta là đêm cuối cùng của
năm Ðinh Mão...
Mười giờ mười lăm phút. Chỉ còn gần hai tiếng nữa là tới giao thừa. Quê
người cũng có bánh chưng, hạt dưa nhưng bên ngoài tuyết rơi lạnh giá.
Ðám người gồm cả nam lẫn nữ, độc thân có, đã lập gia đình cũng có. Nhưng
tất cả đều là những người mang tâm trạng trống trải cô đơn; đủ trống
trải cô đơn để mà cùng tìm đến nhau, cùng cố tìm lại một chút ý nghĩa
mùa xuân trong đêm dài mùa đông chính thức ở tiểu bang lạnh buốt da và
buốt tim người: Minnesota.
Nhìn thoáng qua ta có thể nhận ra rằng người lớn tuổi nhất trong đám có
lẽ chưa đến bốn mươi, còn người trẻ nhất chắc chỉ vừa xấp xỉ hai mươi
tuổi mà thôi.
-Tôi đề nghị mình kể chuyện cho nhau nghe để đợi giao thừa.
Một người đề nghị như vậy. Có tiếng nhao nhao tiếp theo:
-Kể chuyện? Ý kiến hay. Ðồng ý. Nhưng mà kể chuyện gì?
-Chuyện tất niên.
-Chuyện tất niên?! Chuyện tất niên là chuyện gì, kỷ niệm đón tết hồi xưa
bên Việt Nam?
-Không phải! Chuyện tất niên là những chuyện liên quan đến thế giới
huyền bí. Chuyện kể bên nồi bánh chưng ấy mà.
Có tiếng hỏi ngập ngừng:
-Anh muốn nói là chuyện ma?
-Không nhất thiết phải là chuyện ma. Tôi nhớ lúc còn nhỏ mỗi năm 27, 28
tết nhà nấu bánh chưng. Kể từ ngày đó cho đến đêm giao thừa, tôi không
bị bắt đi ngủ sớm mà được ngồi cùng cha mẹ chú bác cô dì quanh nồi bánh
chưng; nghe họ kể toàn những chuyện lạ lùng. Càng nghe càng sợ nhưng
càng nghe lại càng mê, rồi ngã vào lòng mẹ ngủ thiếp đi lúc nào không
biết... Nghĩ lại thật là những kỷ niệm êm đềm...
Có tiếng một cô gái:
-Anh H. là người đưa ý kiến. Anh lại có những kỷ niệm như vậy thì chắc
chắn anh có sẵn chuyện để kể rồi...
Ðến đấy mọi người cùng nhao nhao lên:
-Ðúng rồi. Anh H. kể chuyện cho chúng tôi nghe đi.
Người thanh niên tên H. trầm ngâm:
-Ðược. Nhưng tôi có đề nghị thế này. Sau khi kể xong tôi chỉ ai người ấy
phải thế tôi kể chuyện kế tiếp, rồi cứ tiếp tục như thế cho đến giao
thừa thì thôi, dù câu chuyện gay cấn đến bao nhiêu cũng không được kể
tiếp nữa...
-Sao vậy???
-Vì sau giao thừa là năm mới rồi. Những chuyện mình sẽ kể cho nhau nghe
đây là chuyện chỉ kể đêm giao thừa mà thôi.
Mọi người đồng ý. H. bắt đầu kể. Câu chuyện của anh là:
THIÊN LINH CÁI
(Câu chuyện của H.)
Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa hiểu rõ nghĩa 3 chữ Thiên Linh Cái. Có
người nói luyện thiên linh cái là luyện bào thai con nít, lại có người
nói luyện thiên linh cái là luyện đầu lâu người. Thành tôi chẳng hiểu ra
sao cả.
Thôi thì tôi cứ kể chuyện này ra rồi tùy các bạn xét đoán.
Ðó là năm 1959, gia đình chúng tôi ở trong một xóm đạo di cư cách Ban Mê
Thuột khoảng 30 cây số. Nhưng gia đình tôi lại có một căn chòi ở ngoài
hẳn phạm vi xóm đạo, cạnh bìa rừng, nơi gần như chẳng có ai lui tới bao
giờ. Tôi không nhớ tại sao cha mẹ tôi lại dựng căn chòi lẻ loi đó, có
thể vì gia đình tôi là một trong những gia đình đầu tiên, khi đến chưa
có cha xứ qui định phạm vi xóm đạo.
Một ngày kia có một người khách lạ đến gặp cha tôi, điều đình để mướn
căn chòi đó. Tôi lúc đó mới 6 tuổi, con nít quá chẳng ai để ý tới, nhưng
nhờ đó tôi nghe lóm được hết mẩu đối thoại giữa cha tôi và ông khách.
Ông khách không những mướn căn chòi mà luôn cả khoảnh đất gần một mẫu
tây bao xung quanh, cũng thuộc quyền sở hữu của gia đình tôi. Khoảng đất
này có một hàng rào thép gai sơ sài bao bọc. Ðiều kiện của ông khách là
không được bất cứ ai bén mảng đến gần nơi đó. Ông bảo vì ông cần sự yên
tĩnh để tu tâm. Ðiều kiện phải kể là quá dễ dàng, cha tôi ưng thuận
ngay.
Ba tháng yên lặng trôi qua, ông khách hiển nhiên không phải là người
công giáo vì không chủ nhật nào tôi thấy ông trong nhà thờ. Ông sống bí
mật và có lẽ dư tiền bạc vì ông không làm lụng gì hết. Thỉnh thoảng ông
có ghé mua đồ ở cửa tiệm tạp hóa duy nhất của xóm đạo, chính là cửa tiệm
của cha mẹ tôi.
Ðời sống của xóm đạo nói chung và của gia đình tôi nói riêng không đến
nỗi chật vật nhưng những người lớn đều bận rộn lắm, ít để ý đến con nít
ngoại trừ những dịp lễ đạo và những ngày cuối tuần. Tôi lẻn đi chơi hoài
mà không ai biết cả. Rừng cao nguyên Việt Nam trước chiến tranh có rất
nhiều thú dữ và rắn độc, nhưng con nít thì đâu biết sợ. Tôi đã "thám
hiểm" không biết bao nhiêu lần trong khu rừng này, dĩ nhiên là chỉ ở gần
phía bìa rừng mà thôi.
Lần đó tôi thừa lúc cha mẹ đông khách lẻn vào rừng chơi lúc xế chiều.
Chạy nhảy đã đời, tôi mệt mỏi ngồi nghỉ dưới một gốc cây to, ai ngờ ngủ
quên lúc nào không biết.
Tôi bật thức dậy vì những tiếng động kỳ lạ để biết rằng trời đã vào đêm.
Qua kẽ lá cây rừng tôi thấy ánh đèn cầy và một dáng vóc quen thuộc. Tôi
suýt kêu lên khi nhận ra đó chính là ông khách lạ, nhưng tôi dằn lại
ngay vì nét mặt ông khách thật hung dữ khác hẳn ngày thường, lại mặc một
bộ đồ đen tuyền, ngay cả đầu cũng có phủ một tấm vải đen che hết tóc.
Tôi nén thở ép người vào trong bụi cây gần đó trong khi ông khách đi
qua, cách tôi chỉ khoảng thước tây. Cuối cùng ông dừng lại cách chỗ tôi
núp khoảng mươi thước. Xem vậy mà cũng xa lắm vì rừng rất um tùm, nhiều
lớp bụi, cây chằng chịt. Ông để chiếc đĩa có cây nến trên mặt đất, quỳ
xuống lấy trong người ra một bó nhang, chầm châäm đốt rồi vái lạy. Ông
lên tíng, giọng oang oang như đang nói chuyện với một người nào đó,
nhưng tôi không hiểu ông nói gì vì ông không dùng tiếng Việt. Bây giờ đã
biết sơ tiếng Lào và tiếng Miên thì tôi nhớ lại dường như cũng không
phải một trong hai thứ tiếng này. Tóm lại ông đã dùng một thứ ngôn ngữ
kỳ lạ nào đó mà tôi hoàn toàn không biết.
Khung cảnh lúc đó hết sức huyền bí. Chỉ nói là huyền bí mà không nói là
kinh dị vì chẳng hiểu sao tôi không hề thấy sợ mà chỉ thắc mắc, tò mò.
Tôi tự nhiên nhớ tới đeìu kiện mà ông đã đặt với cha tôi. Tôi nghĩ chắc
phải có gì quái lạ trong căn chòi mà ông mướn lại của gia đình tôi.
Ðợi ông khách đi thật lâu rồi tôi mới theo lối cũ về nhà. Lần đó tôi ăn
đòn một trận nên thân vì tội trốn đi chơi, lại quá khuya mới về. Nhưng
tôi bậm môi kín miệng, nhất quyết không nói cho ai biết khám phá của
tôi, chỉ dối quanh co là bị lạc nên về trễ.
Mấy ngày sau đó có chuyến xe đò ra Ban Mê Thuột đi ngang. Chính mắt tôi
thấy ông khách leo lên chiếc xe đó. Xe chạy rồi, một ý nghĩ táo bạo nẩy
ra trong óc tôi. Tôi biết là phải tối thiểu mấy giờ nữa ông khách mới từ
Ban Mê Thuộc trở về.
Chiếc cổng hàng rào đã khóa chặt nhưng tôi chui lọt qua giữa hai lằn kẽm
gai không khó khăn gì. Tôi đi qua cái sân trống, đẩy kẽo kẹt chiếc cửa
lách vào căn chòi. Ngoài chiếc giường tre cũ quen thuộc với một cái chăn
và chiếc màn cuốn xếp gọn ghẽ, căn chòi gần như không có gì. Nhưng tôi
chợt khám phá ra là một góc căn chòi đã bị che lại bằng một tấm màn kéo.
Tấm màn không cao lắm, đủ để cho tôi thấy khói bốc lên từ bên trong cùng
với mùi hương trầm bay ra ngào ngạt.
Tôi hồi hộp bước tới gần tấm màn. Tôi biết những gì sau tấm màn chắc
chắn có liên quan và biết đâu có thể giải thích những hành vi kỳ lạ của
ông khách mà tôi thấy trong rừng mấy đêm trước đó.
Tôi kéo mạnh tấm màn. Và ngay sau đó tôi sợ đến gần như té xỉu. Tôi quay
người loạng choạng. Hình như tôi có trượt chân nhào ngã, vì tôi còn nhớ
có nghe tiếng loảng xoảng của vật rơi vỡ ở phía sau lưng. Nhưng lúc ấy
tôi thật chẳng biết gì là gì nữa; chỉ cố chạy tháo ra khỏi căn chòi đến
hàng rào. Người tôi bé nhỏ mà không hiểu sao lúc đó chui qua hàng rào
không muốn lọt. Ðầu nhọn kẽm gai cứa mạnh vào người, vào chân tôi; nhưng
tôi không còn biết đau là gì nữa, chỉ cốt vuột thoát ra ngoài mà thôi.
Chạy được một quãng ngắn tôi nghe tiếng chân sầm sập đuổi theo. Tôi
hoảng lên càng chạy nhạy hơn, nhưng vẫn quay đầu nhìn lại. Thì ra là ông
khách lạ. Ông kêu lên: "Thằng bé ngoan, ngừng lại, ngừng lại". Nhưng làm
sao tôi dám ngừng. Cũng may dù bé nhưng tôi chạy nhảy đã quen, còn ông
khách có lẽ vì lớn tuổi nên không đuổi kịp. Tới xóm đạo, không thấy tăm
hơi ông khách tôi mới hoàn hồn.
Tôi chạy về nhà. Cha tôi thấy người tôi dơ bẩn giận lắm la tôi nhưng mẹ
tôi nhìn thấy những vết máu sướt kẽm gai trên người tôi bèn vỗ về hỏi
tôi tự sự. Tôi kể sự thật, lắp bắp mãi một lát sau cha mẹ tôi mới hiểu.
Cha tôi không tin lời tôi nhưng cũng vội vàng đi kêu thêm vài thanh niên
khỏe mạnh.
Một lát sau khi mẹ tôi đã băng bó cho tôi xong, tôi được một thanh niên
cõng theo đoàn người đến căn chòi. Nhưng khóa hàng rào đã mở, và khi
chúng tôi vào trong thì chỉ thấy vài bát nhang lăn lóc dưới đất chăn màn
của ông khách cũng không còn.
Những người lớn chia nhau ra tìm trong rừng suốt cả ngày hôm đó, nhưng
không thấy tăm hơi ông khách đâu cả.
Câu chuyện đến đây chấm dứt. Một thanh niên thắc mắc hỏi:
-Nhưng... anh thấy gì sau tấm màn đó?
Một người lên tiếng đoán:
-Một cái... bào thai con nít chứ gì!...
-Giê Su Ma. Lạy chúa tôi. -có tiếng con gái thì thào.
H. trả lời:
-Không phải. Lúc ấy tôi còn quá nhỏ. Giả như có thấy bào thai con nít
thì chắc là tôi không biết sợ đâu.
-Vậy thì... ??
H tiếp ngay:
-Tôi chỉ sợ không ai tin tôi thôi. Tôi nhìn thấy một cái đầu người.
-Giê Su Ma. -lại tiếng thì thào hồi nãy. "Anh muốn nói là một cái sọ
người?!"
-Không phải! Tôi thấy một cái đầu người. Một cái đầu người đầy đủ thịt
da.
Trong khi mọi người nín thở như bị thôi miên, H. tiếp:
-Một cái đầu người đứng bằng cổ trên một cái đĩa bạc giữa bàn thờ. Và
kinh khủng nhất là, cái đầu ấy còn sống!
-Một cái đầu còn sống à? -có tiếng la. "Làm sao có chuyện ấy được? Mà
làm sao anh biết là cái đầu ấy còn sống?"
-Tôi không thể nào lầm được. Lúc kéo màn ra nhìn thấy cái đầu ấy tôi đã
muốn chết sững vì tưởng mình gặp trộm. Lúc biết là cái đầu đó đứng một
mình trên cái đĩa thì tôi không còn chút hồn vía nào nữa. Nhưng như vậy
mà vẫn chưa hết đâu! Ðôi mắt của chiếc đầu đang nhắm kín bỗng từ từ mở
ra nhìn tôi, miệng mấp máy như muốn nói một điều gì. Ðó là lúc tôi bủn
rủn tay chân, quay đầu bỏ chạy.
Mọi người không hẹn mà cùng xích lại gần nhau hơn. Cô gái hồi nãy lại
lên tiếng:
-Vậy là anh gan quá còn gì. M. thì chắc là xỉu ngay tại chỗ.
Người thanh niên hay hỏi lúc nãy lại lên tiếng:
-Anh H. Anh có thể đoán cái đầu ấy muốn nói với anh điều gì không?
Mọi người cùng "ồ" lên một tiếng rồi đưa mắt nhìn nhau; thầm nghĩ ai mà
đến chuyện đó mà còn tò mò cho được. H. ra dáng trầm tư, rồi trả lời:
-Dĩ nhiên lúc đó tôi sợ quá nên không để ý. Nhưng bây giờ anh hỏi tôi
mới sực nghĩ ra. Dường như cái đầu ấy muốn cầu khẩn, van nài tôi một
điều gì nó. Các bạn coi có kỳ không?
Người thanh niên lần này không hỏi nữa, mà giải thích:
-Không kỳ đâu! Tôi dám chắc là cái đầu ấy đã van nài anh thật đó.
H. ngạc nhiên:
-Van nài tôi? Van nài tôi để làm gì mới được chứ?
Người thanh niên chậm rãi:
-Van nài anh giúp hắn bằng cách gạt bỏ tàn hương, thổi tắt những ngọn
nến. Vì nếu anh đủ can đảm làm những việc này thì linh hồn người bị giam
trong cái đầu sẽ được giải thoát ngay.
Lời giải thích vừa rùng rợn vừa phản khoa học. Cô gái tên M. lại tên
tiếng:
-Linh hồn bị giam trong cái đầu à, làm sao lại có chuyện kỳ lạ ghê gớm
như vậy?
-Ðây là cách luyện đầu người của những tay thầy pháp vô đạo. Phải là
người chết bất đắc kỳ tử, vì như vậy hồn mới không lìa khỏi xác ngay.
Trong vòng mười lăm phút đồng hồ từ lúc chết phải cắt giữ lấy đầu vì
linh hồn lưu luyến chỗ ấy, rồi dùng bùa giam lại, luyện bằng cách nào đó
một số thời gian. Luyện đúng thì đầu sẽ giữ được tốt tươi, linh hồn bị
giam trong cái đầu trở thành nô lệ cho người luyện, không cách nào siêu
thoát được.
"Cứ theo chuyện anh H. kể thì ông khách chắc chắn là một ông thầy bùa.
Bộ đồ đen mà ông ta mặc trong rừng chỉ là bộ đồ lễ; ngôn ngữ bí mật của
ông ta chính là những câu thần chú, hiển nhiên liên quan đến việc luyện
đầu người. Chắc ông ta luyện vẫn chưa thành, cái đầu mới van nài anh cứu
để được đi sang thế giới bên kia.
"Cũng theo lời kể của anh, thì khi anh xoay người nghe phía sau có tiếng
vật rơi vỡ loảng xoảng. Vậy chắc là anh vướng vào khăn phủ bàn thờ, kéo
mọi thứ rớt xuống đất. Thành thử anh không cố ý, mà đã giải thoát cho
linh hồn trong cái đầu được siêu thoát. Ông thầy bùa chắc phải cay anh
lắm đấy. Cái đầu thành vô dụng, đành phải mang theo cốt để phi tang
tránh tội mà thôi..."
Câu chuyện của H. đã khó tin, lời giải thích của anh thanh niên càng khó
tin hơn nữa. Nhưng chính vì thế mà anh đã gây được sự chú ý, nếu không
muốn nói là tạo được sự sợ hãi trong lòng mọi người. H. đề nghị anh là
người kể chuyện tiếp. Anh không khách khí, tự giới thiệu mình tên là L.,
rồi vào chuyện ngay. Câu chuyện của anh là:
trở về đầu trang
CHUYỆN NGƯỜI TỰ HỌC THIỀN
(câu chuyện của L.)
Tôi theo đạo phật; nhưng nói đúng hơn là tôi tin vào triết lý nhà phật
như nhiều người Việt Nam khác. Thuở nhỏ tôi thường được mẹ dẫn theo mổi
lần bà đi lễ chùa. Lớn lên tôi bớt đi chùa dần và từ năm 18 tuổi đến nay
thì gần như tôi không bao giờ đi chùa cả. Tóm lại tôi không phải là một
đệ tử thuần thành lắm của nhà phật.
Nhưng không hiểu sao từ khi qua Mỹ tôi bỗng me thiền. Mê là tự nhiên mê
và mê tự nhiên chứ không có lý do gì. Tôi cũng không đi học thiền hoặc
được ai dạy thiền; nhưng tôi nghĩ "Thiền là định tâm. Như thế tự thiền
cũng được cần gì phải học ai cho mệt".
Thế là tôi tự thiền. Tự thiền có nghĩa tự thực hành những suy nghĩ,
những hiểu biết mơ hồ có sẵn về việc thiền mà không bỏ công nghiên cứu
thêm gì hết. Ðời sống Minnesoa vốn bình lặng nên rất thích hợp cho việc
tự thiền của tôi. Mỗi đêm tôi đều dành ra một giờ đồng hồ, mặc đồ nhẹ
ngồi xếp bằng trên thảm, tưởng tượng là mình đang thiền định.
Mỗi lần ngồi "thiền", việc duy nhất của tôi là cố quên đi mọi suy nghĩ,
để cho đầu óc trở thành trống rỗng, vì tôi cho rằng bước đầu tiên của
thiền phải là như thế.
Vậy mà không phải dễ. Mấy tuần đầu thay vì đạt trạng thái trống rỗng,
môi lần "thiền" tôi lại bị biết bao nhiêu chuyện quá khứ trở về ám ảnh,
có những chuyện tôi tưởng đã quên đi hẳn rồi, và có những chuyện tôi
muốn quên đi hẳn cho rồi.
Dần cũng quen. Sau ba tuần lễ toi đã đạt được kết quả đáng kể. Dù cho
công việc trong ngày có gây cho tôi bực mình cách mấy, đêm đến khi hết
giấc thiền thì tôi lại tỉnh hẳn ra, lòng thư thái vô cùng. Tôi tự khen
mình đã đạt được trạng thái "trống rỗng" của thiền trong một thời gian
phải nói là rất ngắn.
Ðến tuần lễ thứ tư thì tôi có thể "thiền" ngay cả trong khi mở mắt. Tuy
thế tôi vẫn thích nhắm mắt hơn. Sức khỏe của tôi tăng tiến. Dường như
"thiền" tạo một sự đổi thay nào đó trong bộ máy hô hấp và tuần hoàn của
tôi. Nhu cầu ngủ của tôi cũng giảm đi. Trước đó đêm nào ngủ ít hơn 7
tiếng thì hôm sau tôi uể oải vô cùng. Nhờ "thiền" tôi chỉ còn cần ngủ
khoảng 5 tiếng; nếu kể thêm giờ thiền một tiếng thì cũng chỉ mất tổng
cộng 6 tiếng một đêm.
Tôi cho là lối thiền của tôi chắc chắn phải đúng.
Thắm thoát mà rồi 4 tháng qua mau từ ngày tôi bắt đầu tự thiền.
Ðêm đó trong khi thiền tôi bỗng có một cảm giác rất lạ, tưởng như có một
lực vô hình nào đó nhấc bổng tôi lên. Người tôi nhẹ nhõm, trôi bềnh
bồng, hết sức dễ chịu.
Mở mắt ra, tôi thấy một cách phòng ở dưới, cách bày biện và đồ đạc quen
thuộc. Ðúng là phòng của tôi. Nhưng kỳ lạ xiết bao, tôi nhìn thấy chính
tôi đang nhắm mắt tọa thiền ngay ở giữa phòng.
Người tôi rơi mạnh xuống. Tôi hoảng hốt nhắm mắt lại. Không có gì. Tôi
mở mắt ra. Thì ra đó là một giấc thiền.
Giấc thiền đó khiến tôi suy nghĩ. Chắc chắn là tôi đã không nằm mơ; vậy
thì tôi đã thấy chính tôi bằng xương bằng thịt hay sao?
Một ý nghĩ thoáng qua đầu. Quá phi lý, nhưng tôi không có cách nào giải
thích hợp lý hơn cả.
Tôi quyết định thiền thêm một lần nữa ngay sau đó. Cảm giác bay bổng một
lần nữa xảy ra. Nhưng lần này tôi không thấy căn phòng, không thấy tôi
mà thấy bốn bề tuyết phủ, thấy nóc căn nhà tôi đang ở với cây ăng ten TV
đã ngả ngang qua 45 độ không biết từ bao giờ, có lẽ vì những cơn gió
mạnh đặc biệt của Minnesota.
Tôi rời khỏi giấc thiền, vội vã mặc jacket ấm chạy ra ngoài sân nhìn lên
nóc nhà. Quả nhiên cây ăng ten TV ở thế ngả 45 độ!
Tôi nhảy nhót vui mừng. Ðây là một diễn biến ngoài khả năng tưởng tượng
của tôi. Tôi biết là tôi đã xuất hồn, tức là tôi đã đạt một trình độ rất
cao của thiền mà trước trước đây tôi không tin là có thể thực hiện được
trong phạm vi khả năng và giới hạn của cuộc sống con người.
Nhưng sự vui mừng của tôi không trọn vẹn. Những ngày liên tiếp sau đó
tôi khám phá rằng tôi chỉ có thể "xuất hồn" sau 9 giờ đêm, nhưng điểm
này có thể bỏ qua. Ðáng chú ý hơn là tôi không biết được là "hồn" của
tôi sẽ đi đâu, và không điều khiển được bất cứ một diễn biến nào trong
những cuộc xuất hồn của tôi.
Có lần tôi thấy mình đứng lặng lẽ giữa freeway tuyết rơi trắng xóa. Tôi
chạy qua chạy lại, vấp ngã, rất lâu rồi bay bổng lên không nhìn xuống
thành phố đôi Minneapolis-St. Paul với muôn nghìn ánh đèn màu rực rỡ.
Có lần tôi thấy mình đứng giữa một nghĩa trang. Xa lắm mới có ánh đèn
rơi leo lét. Ngay dưới chân tôi là những bó hoa đã rời rạc, tả tơi;
những mộ bia mà tôi chắc chắn đang hiện hữu ở một địa danh nào đó.
Có lần tôi thấy mình đứng trong một phòng ngủ xa lạ và người đàn bà hiện
diện không ai khác hơn là K., vợ cũ của tôi. Nàng đã trốn đi với người
bạn thân nhất của tôi sau ba tháng tôi cho anh ta ở chung nhà vì thông
cảm hoàn cảnh tài chánh thiếu hụt. Tung tích của họ đến hôm nay vẫn còn
bí mật, ngay cả đối với tôi. Vậy mà trong giấc thiền đó tôi thấy K. thật
rõ ràng. Nàng ngồi ở bàn phấn, gục đầu giữa hai bàn tay. Rồi nàng khóc,
và tôi nghe nàng gọi tên tôi, thở than cho thân phận, hồi tiếc một lỗi
lầm. Nàng cứ khóc như thế và tôi cũng chỉ có thể nhìn như thế. Rồi sức
mạnh huyền bí kia kéo tôi trở về thực tại, với một đêm đông lạnh buốt ở
thành phố Minneapolis.
Có lần tôi thấy mình ở giữa biển lớn mênh mông. Tôi thấy một chiếc
thuyền nhỏ rất đơn sơ. Bão nổi lớn lên, bóng đêm vùi dập, những đợt sóng
tàn ác lạnh lùng. Tôi nghe tiếng người kêu khóc, tiếng đọc kinh nguyện
cầu Phật, Chúa, tiếng trẻ con gào thét bi ai để biết họ là những người
Việt Nam vượt biển. Tôi đã tự hỏi: "Trời ơi! Làm sao con thuyền nhỏ chịu
nổi những đợt sóng này?" Nhưng rồi như có một phép lạ, gió bỗng lặng,
biển bỗng êm, ánh trăng thoát ra ngọt ngào từ những mảnh mây mờ tối và
chiếc thuyền con lại bình an tiếp tục cuộc hải trình.
Có lần tôi bị kéo đi xa, xa lắm. Tai tôi ù, mắt tôi hoa, và rồi tôi thấy
mình đứng trước một ngôi chùa hoang phế. Tôi biết tôi đang ở trên đất
nước Việt Nam. Nói rõ hơn sự kiện rằng tôi ở Việt Nam không là suy luận,
mà là chắc chắn và đương nhiên.
Vậy mới là lạ, vì cảm giác tôi đã có là cảm giác của một người chưa từng
rời Việt Nam mặc dù tôi vẫn biết một phần kia của tôi đang ngồi im lặng
trong một căn phòng ở thành phố tuyết rơi miền bắc Mỹ xa xôi.
Tôi vào trong ngôi chùa, tỉ mỉ xem xét khắp nơi. Chùa bỏ hoang đã lâu,
toi không đoán mà biết như thế. Bên trong tượng phật lúc nhúc những quỷ
ma núp bóng. Ðừng hỏi tại sao tôi biết là có ma có quỷ núp trong tượng
phật, và đừng hỏi hình dạng ma quỷ ra sao, tôi sẽ không trả lời được
đâu; xin hãy chỉ hiểu là lúc đó tôi biết, biết rất rõ như thế.
Và tôi buồn thấm thía. Ðời nay quả là buổi mạt pháp rồi. Phật nào có trở
về ban phép cho những kẻ đúc tượng, bán tượng hay thờ tượng; chỉ có quỷ
ma nhân đó lợi dụng những người nhẹ dạ mà thôi.
Mà tại sao tôi buồn như thế và nghĩ như thế nhỉ? Tôi chỉ dám giải thích
rằng dường như khi xuất hồn, tôi biết nhiều hơn và có khả năng sy luận
mãnh mẽ hơn con người ngày thường của tôi, có thể đến cả một trời một
vực. Tôi cũng nhận xé rằng sau những giấc thiền, mặc dù tôi vẫn ghi nhớ
những cảm giác cũng như những suy nghĩ của "hồn" tôi, tôi không thể nào
có cùng trạng thái an tĩnh và khả năng giải quyết những khúc mắc như
"hồn" tôi được. Ðây cũng thật là một điểm lạ kỳ.
Ðể tôi đưa một thí dụ dễ hiểu. Ðối với "hồn" tôi, sự thành thật là một
lẽ cư xử đương nhiên, trong khi đối với tôi thú thật nhiều lúc tôi vẫn
tự hỏi mình có chắc chắn muốn sống một đời thành thực hay không, tại sao
có quá nhiều kẻ không thành thực được ưu đãi, tai sao có những người vì
thành thực mà thua thiệt mọi đường vân vân và vân vân...
Tóm lại trong thời gian tự thiền tôi có đến hai đời sống, hay nói đúng
hơn đến hai con người. Hai con người đó căn bản giống nhau nhưng phải
nhìn nhận "con người thiền" có một trình độ tâm thức vượt hẳn "con người
thường", tức là tôi bằng xương bằng thịt đang ngồi trước mặt các bạn bây
giờ.
Có thể nói "con người thiền" đó đã đạt một trình độ tâm thức hết sức cao
so với "con người thường", tức là tôi bằng xương bằng thịt. "Con người
thiền" độ lượng và bình tĩnh, không bao giờ bị những diễn biến làm cho
ngạc nhiên; trong khi tôi bị nhiều người cho là khắt khe, khó tính, nóng
nảy, hay để tình cảm lấn át lý trí.
Trước khi lạc đề qua xa, tôi xin trở lại câu chuyện với diễn biến cuối
cùng trên con đường tự thiền của tôi.
Ðêm đó, cũng như mọi đêm, tôi ngồi thiền và xuất hồn. Hồn tôi bay lơ
lửng ở một nơi xa lạ nào đó, hết sưc mờ ảo và dường như có đôi phần kinh
dị.
Có một sức mạnh nào đó muốn kéo tôi đi. Lúc đầu tôi không phản ứng vì
những cuộc xuất hồn thường chấm dứt như vậy. Luôn luôn có một kó tôi trở
về để nhập lại và xác thân và hoàn tỉnh trong căn phòng ở Minneapolis.
Nhưng lần này thì khác. Tự nhiên tôi linh cảm một sự đ ẹoa, tự nhiên tôi
biết là tôi không được kéo trở về, mà đang bị lôi đến một thế giới nào
đó, hết sức kinh hoàng. Tôi cố cưỡng lại, nhưng vô ích. Cái cảm giác như
trăm ngàn bóng đen níu kéo, cái cảm giác như kẻ dẫy dụa tìm lối sống
trong khi thân thể vẫn tiếp tục chìm dần trong một vũng lầy ghê rợn chứa
đầy những giòi bọ hôi tanh.
Trong trạng thái đó tôi chợt hiểu là tôi đang bị cuốn lôi và thế giới
trầm luân, thế giới của ma, của quỷ. Tôi chợt hiểu là nếu không có gì
cứu được tôi lúc này, tôi sẽ không trở lại được để nhập vào thân thể.
Rồi mai, hay mốt, hay năm ba ngày nữa sẽ có người phát giác ra tôi ngồi
im lìm trong căn phòng nơi miền Bắc Mỹ xa xôi. Cuũg có thể là xác tôi sẽ
rũ xuống, ngã ra sau một thời gian nào đó mà hôn chưa thấy trở về. Người
ta sẽ áp tai và mũi, đặt tay lên tim tôi để khám phá là tôi đã ra đi
vĩnh viễn. Ở nơi xa xôi nào đó K. chắc sẽ ngậm ngùi, và biết đâu nàng sẽ
tưởng là tôi đã vì quá đau khổ mà tự tử chết vì nàng.
Tôi đã nghe nhiều câu chuyên thiền. Nheìu người thiền rồi không tỉnh dậy
nữa. Có thẻ là họ đã được về nơi cõi cao siêu; nhưng thế nào chẳng có
những người ở trong hoàn cảnh tôi lúc ấy, chỉ bị cuốn vào cõi u mê,
không thể trở về, để xác thân dần đi vào cõi chết.
Nhưng tôi, hay nói đúng hơn là "hồn" tôi, vẫn bình tĩnh lắm. Tôi nhớ đến
những lân ngày xưa cùng mẹ đi lễ chùa, nhờ đến chán vạn câu kinh mẹ tôi
bắt tôi đọc đi đọc lại ở nhà "để ma quỷ không ám hại được". Những lúc ấy
tôi vì lười không đọc, lớn lên thì tôi lại cho là mẹ tôi mê tín. Nhưng
trong hoàn cảnh thập phần nguy hiểm tự nhiên tôi hiểu căn cơ của những
điều nghe như mê tín ấy. Tình trạng khốn đốn của tôi là một hiện tượng
tâm tư, và dù hiện tượng tâm tư này có thể dẫn đến sự tàn hoại của thân
xác tôi đi nữa thì nó vẫn chỉ là một hiện tượng tâm tư mà thôi. Muốn có
cơ hội "sống" tôi phải cố tĩnh tâm mới được.
Nghĩ thế rồi tôi lẩm nhẩm đọc không biết bao nhiêu lần "Nam mô A Di Ðà
phật" mặc dù tôi chẳng biết phật A Di Ðà là ai và thành thật mà nói tôi
cũng không nghĩ đến ngài lúc đó. Vậy mà tình hình biến đổi ngay, từ thế
bại tôi đạt thế giằng co. Và rồi dần dần sức lôi kéo kia giảm xuống,
người tôi bay bổng, tự do.
Tôi mở mắt ra, vui mừng biết bao khi nhìn thấy lại căn phòng. Tôi biết
mình đã thoát hiểm.
Tôi buộc lòng bỏ hẳn thiền. Nhưng tôi vẫn cố tìm bậc thầy có đủ đức độ
để giúp tôi vào con đường thiền trở lại. Tiếc là chưa gặp được ai cả.
Quá mê nghe chuyện, khi câu chuyện "tự thiền" chấm dứt thì M, anh chủ
nhà, mới nhận ra là N, vợ anh không còn ngồi cạnh anh nữa. Không muốn
quấy rầy không khí hồi hộp lúc đó, anh lặng lẽ lùi người ra sau, rồi
nhón chân bước vào nhà bếp. Quả nhiên N ở đó. Nàng đang chăm chú đứng
nhìn ra ngoài khung cửa sổ, như dõi tìm một bí mật trong đêm đen giông
bão loạn cuồng.
Ðoán từ tiếng chân biết là chồng mình, N. không quay người lại, vẫn nhìn
ra ngoài cửa sổ, giọng nàng trầm ngâm:
-Nhiều khi em tự hỏi. Có thật trong bóng tối mênh mông ngoài kia chỉ có
sự chết. Hay là...
M. đến sau lưng, âu yếm bóp nhẹ tay vào bờ vai thon của vợ; tiếp lời:
-Có phải em muốn nói có một thế giới khác cũng đang sống như thế giới
của chúng ta, nhưng vì chúng ta không biết nên gọi thế giới đó là sự
chết...
N. không trả lời chồng. Hai người cứ lặng im nhìn ra ngoài như thế chẳng
biết bao lâu.
Một lát sau, có tiếng chuông đồng hồ từ phòng khách vọng xuống. Ở bên
này thế giới, một mùa xuân lại đã trở về.
trở về đầu trang
San Jose 24 tháng 1, 2004
Người Ngoài Phố
|