|
Những chuyện trà dư
tửu hậu
Ghi chép của Người Ngoài Phố
Kỳ 12:
Như giấc mộng hoàng lương
Lời đầu: Những chuyện trà dư tửu hậu được ghi chép lại từ ngoài đời. Có
khi là ghi nhận trực tiếp, có khi là ghi lại theo lời kể của người khác.
Ðể tránh hiểu lầm hoặc va chạm ngoài ý muốn, người viết đã tái phối trí
dữ kiện và nhân vật; hy vọng không vì thế mà làm hư ý chính.
Các độc giả thấy nctdth khó tin xin cứ tùy tiện xem là chuyện bịa đặt,
kể cho vui một vài trống canh. Chuyện sau đây ghi chép lại từ lời kể của
một anh, cứ tạm gọi anh X. là đủ vì dù sao anh cũng chỉ là người kể
chuyện thôi.
Ðó là năm 198... tôi cùng hai ông anh và một người bạn vừa được ông John
B, một tay triệu phú người Mỹ bỏ tiền ra cho mở hãng. Gọi là hãng cho
sang, thực ra cộng lại chỉ có 6 người kể cả cô thư ký. Chức vụ của cá
nhân tôi nghe rất xôm tụ, president tức là giám đốc, chỉ dưới quyền ông
"lãnh tụ tối cao" John. Thế nhưng trên thực tế với chỉ trên 30 tuổi đời,
tôi biết mình thiếu kinh nghiệm còn phải học hỏi nhiều. Vì vậy tôi chẳng
dám có quyết định quan trọng nào, chỉ ngoan ngoãn thi hành mọi mệnh
lêänh của ông John.
Khoảng hai tuần sau khi mở hãng có một người đàn ông tuổi trạc 50 đến
phỏng vấn việc trưởng nhóm kỹ sư. Ông John có nói trước với tôi về cuộc
phỏng vấn này; rằng người xin việc là ông George G., một nhân vật rất
đặc biệt và là một người quen cũ của ông. Hiểu ý, tôi gợi rằng vì hãng
mới mở ít nhân công chẳng nên rườm rà; mình ông phỏng vấn ông bạn cũ là
đủ rồi, vả lại tôi cũng có việc phải lo. Ðồng ý như vậy nên hôm ấy tôi
chỉ gặp bắt tay ông George thoáng qua khi ông đến nơi rồi lái xe đi lo
công chuyện. Khi về thì được loan báo là tuần sau ông bắt đầu làm việc.
Trên lý thuyết ông George dưới quyền tôi, nhưng rất nhanh chóng tôi khám
phá ra mình chỉ đáng làm học trò của ông trong việc điều động, tổ chức
nên tôi đề nghị ông toàn quyền quyết định mọi chuyện liên quan đến nhóm
kỹ thuật. Tôi cũng bảo ông hễ có chuyện cứ liên hệ thẳng với ông John,
khỏi phải qua tôi.
Ông George có một yêu cầu là mỗi thứ năm nghỉ buổi chiều. Ðề nghị này
được thỏa thuận chẳng khó khăn gì vì đằng nào hãng cũng ở trong giai
đoạn phôi thai, chẳng ai so kè với ai về việc mình làm nhiều hơn kẻ kia.
Vả lại, ông rất giỏi tổ chức, khi ông nghỉ người ta cứ theo lệnh cũ mà
làm, ông John và tôi chẳng bao giờ phải lo lắng.
Thoáng chốc mà ông George đã làm việc chung với chúng tôi một năm và tôi
cũng đã hơi hiểu ra hoàn cảnh của ông. Ông John tả ông là một "Fallen
Eagle" (đại bàng gẫy cánh). "Hắn mất hết gia sản và đang chết sống chết
dở vì bị sở thuế liên bang điều tra đấy."
Từng bị sở thuế liên bang điều tra một lần vì một người bạn cũ dùng số
an sinh xã hội đi làm ở Cali trong khi tôi đang sống ở tiểu bang khác,
tôi hiểu đây là một vấn đề hết sức nghiêm trọng. Ông John giải thích:
"George bảo tao sở thuế thương lượng, bảo nếu hắn chịu trả 6 phần trăm
số tiền hắn có trước kia thì sẽ không làm phiền nữa". Tôi tò mò hỏi:
"Chỉ 6 phần trăm? Sao không chịu đại đi rồi trả góp!" Ông John mới tiết
lộ: "Mày chẳng hiểu gì cả. Sáu phần trăm số tiền hắn có trước kia là 600
ngàn Mỹ kim đấy. Hắn hết sạch rôài, chịu trả 600 ngàn Mỹ kim thì làm
không công cả đời à?"
Tôi giật mình sửng sốt, chưa kịp làm vội bài tính nhẩm trong đầu thì ông
John đã giải thích dùm: "Hắn đã từng mở hãng, lên chớp nhoáng rồi bán
đi, kiếm được chục triệu bỏ nhà băng! Số tiền hắn mất là chục triệu đó!
Sáu phần trăm của mười triệu là 600 ngàn Mỹ Kim, mày hiểu rõ chưa? " Vẫn
chưa hết sửng sốt, tôi hỏi một câu thừa thãi: "Vậy... mười triệu ấy mất
đi đâu?" Ông John lắc đầu: "Mày chỉ cần biết mất là mất, đừng hỏi vì
sao. Nhưng sở thuế đời nào tin, thành thử mỗi tuần chiều thứ năm mới
phải khổ sở đi đối chất như thế."
Những biến cố sau đó xảy ra rất nhanh. Khi sản phẩm của hãng chúng tôi
sắp thành hình ông John móc mối được với một người bạn cũ đang giữ chức
quan trọng ở hãng National Semiconductor (NSC). Lúc ấy hãng NSC lớn lắm,
có thể là đối thủ của Intel. Chỉ vì kiêu ngạo và bê bối quá độ mà xuống
cấp thê thảm như hôm nay. Nhưng tôi lạc đề rồi. Trở lại câu chuyện. Hãng
NSC nhận mua thử một chiếc máy của hãng tôi, hẹn ngày X tháng Y giao
hàng. Nếu máy này chạy đúng tiêu chuẩn họ sẽ mua thêm nhiều máy nữa và
tất cả chúng tôi đều có cơ hội thành triệu phú.
Nhưng đoạn kết của hãng chẳng đẹp đẽ như vậy mà còn ngược lại. Vài tháng
sau hãng đóng cửa. Vụ đóng cửa này chứng minh tôi chỉ là một ông giám
đốc bù nhìn, vì ông George đột ngột nghỉ trước một tuần. Tôi đoán là ông
John đã cho ông biết trước rằng sẽ không có đợt tài trợ kế tiếp.
Chúng tôi mỗi người tản đi một phương. Tôi xin được một việc kỹ sư ứng
dụng, bay đi khắp nơi phục vụ khách hàng. Ðời sống bận rộn dần dần
chuyện mở hãng ngày xưa và giấc mơ triệu phú hụt đã đi vào quên lãng.
Mười lăm mười sáu năm trôi qua lúc nào không hay. Tôi nhớ hình như là
năm 1998 hay 1999 gì đó; một lần đang đi bộ trên những con đường hẹp của
thành phố Tân Yokohama, tôi bỗng nghe có người gọi bằng tiếng Anh:
-Có phải anh M đó không?
Tôi giật mình quay ngang, nhìn người đàn ông da trắng vừa gọi tôi. Ðầu
tóc đã bạc trắng và phần sói đã rộng thêm, nhưng khuôn mặt tròn vo tương
phản lại cái cằm lẹm thì tôi không thể nào quên được. Tôi kêu lên:
-Ông George! Chuyện gì mang ông sang đây?
Chúng tôi tay bắt mặt mừng. Ông George nói ông sang đây cũng là chuyện
của hãng như tôi. Chúng tôi cho nhau số điện thoại liên lạc. Hóa ra ở
cùng khách sạn.
Thế nhưng sáng sớm hôm sau tôi phải đi rồi. Cùng hiểu là lần tới có thể
chẳng bao giờ xảy ra, chúng tôi tranh thủ cơ hội hẹn đêm ấy cùng lên
quán rượu ở tầng trên cùng khách sạn nói chuyện đời chơi.
Như đã kể ở trên, khi cùng làm việc gần như tôi và ông chẳng biết nhau.
Thế nhưng giờ hãng xưa đã là quá khứ, hai người cùng giang hồ mười mấy
năm; nhất là như ông George nói ông đã đến tuổi về hưu, rất có thể
chuyến đi Á châu này là chuyến cuối, chúng tôi trở nên cởi mở lạ lùng.
Nói đủ thứ chuyện, từ kinh tế đến chuyện dài tổng thống Mỹ (lúc ấy là
Clinton), đến chuyện cá nhân.
Và rồi chuyện xưa trở lại lúc nào không hay. Chúng tôi nói về những
chiều thứ năm ông phải xin nghỉ để đi gặp sở thuế liên bang thương
lượng. Lúc ấy tôi mới nhớ rằng có một thắc mắc lớn mà chưa ai giải đáp
cho tôi là ông George làm ra được mười triệu bỏ nhà băng tất phải giỏi
làm ăn, vậy tại sao ông lại có thể mất trọn số tiền ấy như lời ông John
đã kể "trong một thời gian ngắn ngủi có mấy tháng." Như đoán ra thắc mắc
của tôi, ông George trả lời bằng một câu chuyện. Câu chuyện này ông kể
trong khi chúng tôi nhấp cognac hút thuốc lá trên đỉnh khách sạn Prince
ở Tân Yokohama nên quý bạn có thể tùy ý xem là chuyện trà dư tửu hậu.
Chuyện của ông là:
Như giấc mộng hoàng lương
(chuyện kể của ông George)
Chồng Mỹ vợ Nhật
Gốc của tôi là quân đội. Nơi tôi phục vụ chính là đất nước này. Nhật
Bản!
Anh ngạc nhiên à? Anh quên là thế chiến thứ hai chấm dứt ở Thái Bình
Dương với hai trái bom nguyên tử khiến Nhật phải đầu hàng vô điều kiện
hay sao? Tôi thuộc thế hệ thứ hai của những người lính Hoa Kỳ đóng ở
Nhật. Nhìn thấy người Nhật bị lôi cuốn vào tất cả những cái gì có tính
Mỹ, như mê dã cầu, dùng tiếng Mỹ ba rọi làm tiếng Nhật mới như gọi cái
bàn là tê bờ lu (table), phi trường là ề pố tô (airport), tôi không khỏi
có cái kiêu ngạo là con dân một nước tiền tiến, và nhất là cái vinh dự
lây sang từ đất nước khiến tôi có cảm tưởng như chính mình là kẻ thắng
trận.
K., vợ của tôi, là người Nhật Bản. Từ cái nhìn của người Mỹ chúng tôi sự
kiện này chẳng phải là phổ thông nhưng cũng chẳng phải là lạ lùng. Theo
chỗ tôi biết ở đơn vị tôi có vài anh nữa cũng lấy vợ Nhật Bản. Ðiều lạ
lùng là vợ tôi không phải là gái ca ve như vợ các anh bạn kia. Xin anh
hiểu cho, không phải là tôi coi thường các anh bạn của tôi. Tôi chỉ muốn
nói lên một sự thực, vì sự thực đó có ảnh hưởng đến câu chuyện này.
Là người Á đông anh hẳn biết ở Á châu khi một người con gái lấy chồng
ngoại quốc bị coi thường như thế nào. Ðáng lẽ tôi phải hỏi tại sao một
cô gái Nhật nhà lành như nàng lại bất chấp tiếng đời đàm tiếu để lấy
tôi. Nhưng thú thật khi lấy nhau tôi còn trẻ quá. Như nhiều người trẻ
khác, tôi cứ tưởng thế giới xung quanh phải chuyển xoay biến đổi cốt cho
tôi vừa ý, nên câu hỏi ấy chẳng bao giờ hiện lên trong tâm tư tôi.
Tôi phải diễn tả cái nhìn lúc xưa của tôi về vợ tôi thế nào đây nhỉ. Một
bóng mờ bên cạnh tôi? Không! chưa đúng hẳn. À phải rồi, một thứ đồ chơi
đa dụng. Nhưng hơn thế nữa, vì trong khi nhiều người đàn ông khác cũng
coi vợ họ là đồ chơi, món đồ chơi biết đi ấy cũng khiến họ nhức đầu lắm.
Còn K., từ khi quen biết cho đến khi làm vợ tôi nhiều năm, hình như nàng
chẳng bao giờ chống đối tôi một lần nào, ngay cả áp lực kiểu chiến tranh
lạnh cũng không có. Luôn luôn là "Hai, hai" (tiếng Nhật nghĩa là "vâng,
vâng"). Tôi muốn nàng làm cái gì thì đương nhiên nàng làm cho tôi cái
đó. Nhưng nàng còn có một khả năng lạ lùng nữa. Nhiều khi làm như nàng
đoán trước ý muốn của tôi. Tôi nhớ mấy lần khi còn ở Nhật trên chuyến xe
buýt chiều tôi ước một món ăn, về đến nơi khi nàng dọn bữa tối ra, quả
đúng là món ăn mà tôi đã ước. Có huyền bí không chứ?
Tâm hồn nô lệ?
Có lẽ bị khả năng huyền bí đó của nàng lôi cuốn mà con người vô trách
nhiệm như tôi trở thành một người chồng gương mẫu. Nhưng mà, cũng rất có
thể tôi hành động tương tự như một người chồng gương mẫu chỉ vì tôi chắc
chắn nàng đã chấp nhận thân phận của một kẻ nô lệ vĩnh viễn. Thứ nô lệ
trung thành với chủ một cách tuyệt đối và cuồng tín; như một loại chó
siêu chủng thông minh. Thứ nô lệ mà ta càng hành hạ đánh đập lại càng
tôn kính ta nhiều hơn. Thứ nô lệ mà ta rất cần, vì họ cho ta sự tự tin
tuyệt đối.
Hình ảnh nô lệ của K. hiện rõ ràng nhất khi tôi giải ngũ mang nàng về
nước. Ở phi trường bọn hải quan Hoa Kỳ phỏng vấn tôi và nàng riêng rẽ
nhau. Tôi đã thoát ra nửa tiếng rồi mà bọn chúng vẫn còn hạch hỏi nàng.
Giận quá tôi bay vào nói "Với tư cách một công dân Mỹ trả thuế, tôi đòi
hỏi các ông phải làm việc gấp để vợ chồng tôi mau ra khỏi đây." Bọn hải
quan thấy tôi làm dữ quá, hoảng hồn nhượng bộ, không hỏi nàng một câu
nào nữa.
Khi ra đứng cạnh tôi, nàng nhìn tôi với ánh mắt biết ơn. Ðúng là ánh mắt
biết ơn của một kẻ nô lệ vừa được chủ cứu thoát. Nhìn mắt nàng có ngấn
lệ tôi biết chắc bọn hải quan khốn nạn đã hỏi những câu như "Tại sao cô
là gái Nhật lại lấy Mỹ, trước cô có phải là gái làng chơi không?" Bọn
chúng vốn khốn nạn như vậy. Chúng nói đó là kỹ thuật đặt câu hỏi, nhưng
thực ra vì chúng bị bệnh tâm lý. Bọn chúng thường là những kẻ thất bại
ngoài đời, nên vào hải quan để có cơ hội giận cá chém thớt.
Ấy thế mà trước khi đi với tôi, vợ tôi vừa lau giòng lệ vừa cung kính
nói "Thankyou very much!" với mấy thằng hải quan vừa hạch hỏi nàng. Tôi
bực mình, nhưng thôi chẳng nói gì cả, bởi tôi nghĩ khi cái hồn nô lệ đã
ăn rễ quá sâu, đòi hỏi tự trọng là chuyện chẳng bao giờ làm được.
À trở lại chuyện người chồng gương mẫu. Dĩ nhiên là tôi không ngoại
tình. Nhưng tôi còn đi xa hơn thế. Từ khi biết rằng nàng trung thành với
tôi tuyệt đối, tôi chẳng bao giờ giữ tiền nữa. Làm được bao nhiêu tôi
đưa hết cho nàng. Anh có thể nói chúng tôi là một cặp vợ chồng gương mẫu
theo tiêu chuẩn á đông. Chồng ra ngoài vật lộn kiếm miếng ăn. Vợ ở nhà
lo việc nội trợ, và kiểm soát hết tài chính. Cũng là một an bài hợp lý
cho tôi, vì vợ tôi có bằng kế toán ở một đại học nổi tiếng Nhật Bản; còn
tôi rất ghét chuyện cộng trừ tiền bạc.
Giàu sụ bất ngờ
Ở nước Mỹ đã từng phục vụ trong quân đội rất có lợi thế khi xin việc nên
về lại Mỹ vài năm sau đời sống chúng tôi đã ổn định. Sau khi thử lửa vài
nơi, tôi vào làm trong hãng của John B. Nhưng đó không phải là lý do tại
sao tôi và John thành khá thân nhau.
Nói nghe kỳ, nhưng lý do khiến chúng tôi trở nên thân nhau bắt đầu bằng
một trận cãi lộn. Tôi nhớ hôm ấy Andy, anh trưởng nhóm kỹ sư và tôi ngồi
bàn cách làm sao để tăng hiệu năng của máy. Bỗng dưng hai chúng tôi nảy
ra một ý tưởng mới. Ý của chúng tôi là làm thêm một chiếc máy khác,
không liên hệ gì đến những máy mà hãng đang chế tạo. Kỹ nghệ điện tử
chắc chắn cần máy này nên có thị trường ngay.
Cùng gõ cửa vào xin nói chuyện với "ông chủ" John, Andy và tôi hết sức
thất vọng vì John không những chẳng tỏ ra chú ý gì đến sáng kiến của
chúng tôi, lại còn nhắc nhở chúng tôi rằng kỹ nghệ điện tử cạnh tranh
rất ráo riết, tối kỵ phân tâm chia trí. Ra khỏi phòng họp Andy bảo tôi
"Hình như ông chủ nghĩ mình làm chuyện tào lao!" Tôi gật đầu đồng ý. Rút
ngắn câu chuyện, sau khi cố kiên nhẫn trình bày vấn đề thêm một lần nữa
với John và bị bỏ ngoài tai, Andy và tôi cùng nghĩ đến chuyện mở hãng
riêng. Quả như sự dự liệu của chúng tôi, vì đây là một sản phẩm mà thị
trường semiconductor đang rất cần, chúng tôi chẳng phải bỏ ra vốn liếng
gì cả. Với uy tín cá nhân của Andy, một số hãng lớn cho biết sẵn sàng
đưa tiền cọc trước để đặt hàng. Chúng tôi "mượn đầu heo nấu cháo" với số
tiền cọc này lập ra hãng SS. Như anh đã biết, hãng SS phát triển mau
chóng, chỉ trong một năm đã lớn gấp đôi hãng của John B.
Nói về John, tôi phải phục tinh thần thượng võ của hắn. Ngày chúng tôi
ăn mừng đệ nhất chu niên hãng SS John có đến tham dự, có quà và lời chúc
nồng nhiệt. Hắn đùa với Andy và tôi: "Dù sao hai anh phải cám ơn tôi.
Giả như trước đây tôi nghe lời hai anh thì tôi có thêm bạc triệu bỏ túi.
Ðằng này bạc triệu về tay hai anh. Chẳng phải là tốt hơn sao?"
Sau lần thăm viếng này liên hệ giữa tôi và John trở nên chặt chẽ. Ðặc
biệt câu nói nửa đùa nửa thật của John lưu lại một ấn tượng rất mạnh
trong tôi. Xét cho cùng thì Andy và tôi chỉ là hai anh kỹ sư gặp thời.
Nếu tiếp tục làm chủ hãng, sau khi phát triển cực độ rồi thì sẽ đi về
đâu? Có chống chỏi nổi những kẻ chuyên môn ăn cắp kỹ thuật nhưng làm tốt
hơn không? Vậy tại sao không tìm cách rút lui hưởng thụ cái may mắn mà
mình đạt được.
Không ngờ Andy cũng có suy nghĩ y hệt tôi. Và khó ngờ hơn nữa là sau đó
có hai biến cố xảy ra dồn dập. Thứ nhất là hãng chúng tôi được lên Wall
Street Journal như một thí dụ mới nhất của giai đoạn bùng nổ của thung
lũng điện tử. Bài báo "Hai triệu phú mới" vừa ra chẳng bao lâu sau thì
có một hãng rất lớn liên lạc ngỏ ý muốn mua lại hãng SS. Tôi liên lạc
với John thì biết hắn cũng đang bán lại phần cho hai sáng lập viên kia
để rút khỏi hãng A.
Rút ngắn câu chuyện lại. Chuyện bán hãng xảy ra nhanh chóng. Andy đồng ý
ở lại làm giám đốc chuyển tiếp cho hãng SS thêm một năm nữa. Còn tôi thì
xin rút lui hoàn toàn. Chuyện đã qua tôi chẳng cần gì phải dấu, vả lại
có thể John đã cho anh biết rồi. Số tiền tôi có được sau khi bán hãng là
10 triệu Mỹ Kim, sau khi tính thuế. Dĩ nhiên, phải nói là thủ thuật giảm
thuế rất phức tạp, nhưng chuyên viên tài chính đáng tin cậy thì đã có
John B. giới thiệu. Cá nhân tôi cũng chẳng phải dính líu vì như đã nói
trên vợ tôi phụ trách hết tài chính.
Thế nhưng trong khi việc chưa ngã ngũ, tức là khi tôi vẫn còn phải làm
quần quật ở hãng SS cùng lúc với việc thương thảo mua bán hãng, thỉnh
thoảng lại có chuyên viên liên lạc bảo riêng vấn đề X, vấn đề Y thì tôi
vẫn phải có mặt để ký giấy tờ. Cuối cùng tôi hỏi "Có cách gì để chỉ mình
vợ tôi có quyền đại diện tôi mọi việc được không?" Dĩ nhiên bao giờ mà
chẳng có cách. Một giấy ủy quyền đặc biệt là đủ. Thế là tôi được yên ổn.
Theo sang tận Phi châu
Một ngày khi việc thương thảo gần chấm dứt, tôi gặp John ăn trưa.
Hắn nhận xét rằng mặt tôi nhợt nhạt quá như sắp bệnh đến nơi! Hắn bảo từ
kinh nghiệm hắn biết là tôi bị quá nhiều áp lực đời sống. "Cách hay nhất
là bỏ đi đến một nơi không ai biết một thời gian!" Hắn đề nghị.
Rồi việc mua bán cũng xong và trên lý thuyết tôi đã trở thành một anh
nhà giàu về hưu sớm, chẳng còn gì để lo lắng nữa. Vậy mà không hiểu tại
sao mấy đêm liên tiếp tôi không ngủ được. Chợt nhớ đến lời đề nghị của
John, tôi nhấc điện thoại gọi hãng du lịch. Thế là chỉ vài tiếng sau đó
tôi đã ở trên một chuyến bay, lần này không phải là để làm ăn mà là
khách du lịch.
Tôi đã áp dụng lời đề nghị của John và tận dụng khả năng khá hiếm hoi
của mình là biết nói tiếng Pháp; nên nơi tôi đến không phải là Paris,
không phải là Luân Ðôn, cũng không phải là bất cứ một địa danh nổi tiếng
nào trên thế giới, mà là một làng duyên hải ở một nước không tên tuổi ở
Phi Châu. Từ phi trường tôi phải thuê xe, chạy gần tiếng mới đến nơi; và
khi chiếc xe đến nơi dân làng chạy ra nhìn ngắm vì rất ít khi nào họ
thấy một vật quá văn minh như thế.
Sở dĩ tôi biết nơi khỉ ho cò gáy này là vì một lần công tác trong quân
đội tôi đã ghé qua đây. Quả như tôi dự liệu, sau bao nhiêu năm trời hoàn
cảnh của nơi này vẫn không thay đổi. Vẫn những người dân da đen tâm hồn
chất phác vật lộn với miếng ăn hàng ngày bằng nghề chài lưới, và vẫn có
một ông làng trưởng biết tiếng Pháp. Thỏa thuận xong, tôi được cho vào ở
trong một căn lều trống. Món ăn có người mang đến sáng trưa chiều. Tôi
dự định chẳng làm gì cả, trải qua hai tuần hoàn toàn vô dụng ở đây để
giải tỏa bớt cái căng thẳng mà John nói chắc chắn là đầy dẫy trong đầu
óc tôi rồi tính sau.
Chỉ đi bộ hơn trăm thước quá khu neo thuyền của dân làng là đến một bãi
biển nhỏ nhưng thật hữu tình. Cát trắng thoai thoải, và điểm tôi thích
nhất là hoàn toàn không có dấu vết của văn minh cơ khí...
Nhưng đó chỉ là tôi tưởng vậy. Vì vậy ngày thứ ba, đang lười biếng nhắm
mắt lim dim nằm phơi nắng trên bãi biển, thả hồn về những ngày còn trẻ
trong quân đội, tôi sửng sốt khi nghe tiếng người phát lên gần đó bằng
tiếng Anh giọng Mỹ trăm phần trăm:
-Chào ông G. Chắc ông thích bãi biển này lắm?
Tôi giật mình vì G. chính là tên tôi. Mở mắt ra, tôi thấy một người đàn
ông da trắng sững sững. Theo phản ứng, tôi khống chế:
-Ông là ai? Tại sao anh lại gọi tôi là ông G. Tôi không phải là ông G.
Người đàn ông chìa tay ra thân thiện. Không có cách gì khác tôi đành
đứng dậy bắt tay hắn. Hắn nói:
-Thưa ông G. Tôi là Bob C. Ông nhìn tôi xem có phải là hạng bất lương
không mà ông phải e ngại?
Tôi nhìn hắn. Mặt hơi vuông, đôi mắt nhanh nhẹn, cặp môi hơi mỏng nhưng
hồng hào đầy sức sống. Mặc dù không phải phái nữ, tự nhiên tôi có cảm
tưởng rằng hắn rất dễ được phái nữ tin cậy. Nói cách khác, hắn có cái
nét gian xảo mà ta -tức những người phái nam như anh và tôi- thấy ngay
và ta không dám mang hắn về giới thiệu với cô em gái, vì sợ rằng cô em
gái sẽ tin hắn để rồi bị lừa.
Bob không bỏ lỡ phút giây im lặng, tiếp liền:
-Thưa ông G. Ông không cần hỏi tại sao tôi biết ông, vì ai trong thương
trường mà chẳng biết chuyện ông G. cùng với một người bạn đồng sự, tay
trắng dựng nên cơ nghiệp trong có một năm trời ngắn ngủi. Một gương
thành công mới khác của thung lũng điện tử. Cá nhân tôi đã đọc bài ấy và
hết sức ái mộ ông.
Tôi chẳng nói gì trong khi hắn vẫn thao thao bất tuyệt:
-Nhưng thưa ông G. Tại sao ông lại để số tiền kiếm được nằm im lìm như
thế. Hơn ai hết ông biết người ta có câu, tiền liên tục mất giá. Ðể tiền
nằm yên là đã mất tiền. Chúng tôi là một hãng đầu tư, có rất nhiều kế
hoạch phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của ông. Nếu ông cho phép...
Tôi sẽ không kể thêm về nhân vật Bob này nữa. Vì sau đó tôi tức thì tìm
cách tránh né hắn và nói trắng ra là lẻn trốn một cách âm thầm đi nơi
khác. Có tính toán cẩn thận để hắn muốn dò theo cũng chẳng xong. Nhưng
điểm chính mà tôi học được trong cuộc tiếp xúc này với Bob là một sự
thật bao nhiêu người đi trước đã nói mà tôi không tin "Kiếm tiền khó.
Giữ tiền còn khó hơn nữa!"
Trước đó tôi tự hỏi. Có gì đâu mà giữ tiền khó? Như vợ chồng tôi chẳng
hạn. Không con cái, không xa xỉ; thì có lý do gì để mà mất tiền. Nhưng
lúc ấy tôi chợt hiểu ra. Tiền khó giữ vì trên đời này có những con người
kiếm tiền bằng cách truy lùng ra tông tích những người có tiền rồi rút
rỉa họ. Như trường hợp anh chàng Bob này truy lùng và hy vọng rút rỉa
tôi.
Như giấc mộng hoàng lương
Thật là không có cái dại nào như cái dại nào. Tôi đã nghĩ những
người như Bob mặc dù khó thành công với phái nam nhưng rất dễ được phái
nữ tin cậy, vậy mà tôi quên đi mất một điều rất quan trọng là vợ tôi còn
đang ở nhà, và nàng có mọi quyền lực pháp lý để ký bất cứ giấy tờ gì lẽ
thường đòi hỏi chữ ký của tôi. Ði từ nơi này sang nơi khác, tôi chu du
các nơi khỉ ho cò gáy ba tháng sau mới trở về nhà.
Người đón tôi ở phi trường là John. Chẳng hiểu sao vừa nhìn thấy nét mặt
buồn buồn của hắn, tôi bỗng giật mình. Hỏi vặn. Quả nhiên nỗi sợ to lớn
của tôi đã biến thành sự thật. Theo lời kể của John, sau khi từ chối bao
nhiêu nơi đòi đại diện đầu tư, cuối cùng vợ tôi đồng ý một nơi; và dĩ
nhiên đó là một trò lừa đảo. Chỉ trong vòng một tháng bao nhiêu triệu đã
không cánh mà bay.
Nhưng John thêm:
-Tôi không muốn nói hai tin xấu cùng một lúc; nhưng sợ anh nóng giận với
vợ anh, tôi phải cho anh biết là vợ anh đang nằm ở nhà thương H. Bệnh cũ
tái phát. Jane vào thăm bà ấy mỗi ngày. Bác sĩ vẫn chưa tìm ra cách
chữa...
Jane, như anh biết là vợ của John sau này, nhưng lúc ấy còn là bạn gái.
Jane và vợ tôi quen nhau từ khi John và tôi hay liên lạc qua lại. Tôi
vào ngay bệnh viện. Thấy vợ tôi nằm đó, mắt mở nhưng nét mặt xanh xao
nhợt nhạt; tôi phải tự véo tai mới tin được quả nhiên là mình không nằm
mộng. Thầm nghĩ tại sao ông trời lại bày ra cuộc oái oăm. Chỉ mới vài
tháng trước tôi có tất cả. Tiền xài cả đời không hết, thêm một người
đóng vai nô lệ sẵn sàng thỏa mãn mọi yêu cầu mà không đòi hỏi gì ngược
lại. Giờ thì theo John nói -và tôi biết chắc là đúng- tiền đã bị lừa
hết, và nàng nô lệ của tôi đang nằm kia nhợt nhạt không sức sống vì một
căn "bệnh" lạ lùng nào đó mà y khoa tây phương chưa hiểu nổi.
Ðó chính là thời gian John mở hãng với các anh và tôi đến xin việc. Hẳn
anh còn nhớ. Sau khi hãng đóng cửa rồi tôi tìm được việc làm trưởng nhóm
kỹ sư, có gần 20 người dưới quyền. Về tài chánh dần dần tôi lấy lại quân
bình vì sở thuế bắt đầu tin là gia đình tôi bị lừa và không còn hạch hỏi
như trước nữa.
Tôi nhớ có lần anh kể tôi nghe một điển tích gì đó của người Tàu. Anh
học trò đậu trạng nguyên, lấy công chúa, sống hạnh phúc nhiều năm, rồi
vì nịnh thần gièm pha bị mang đi chém đầu. Khi sắp bị chém đầu anh tỉnh
dậy mới biết đó chỉ là một giấc mơ; và thực tế là anh vừa thi rớt trên
đường trở về nhà. Trước khi ngủ quên anh học trò đã bắt đầu nấu một nồi
kê để ăn lót bụng. Sau giấc mơ tưởng là dài mười mấy hai mươi năm tỉnh
dậy anh thấy nồi kê vẫn chưa chín. Chuyện này thật là hay.
Có một lần tôi gặp lại một anh bạn sau 4, 5 năm xa cách. Hỏi ra nghe tôi
xưng đang làm trưởng nhóm kỹ sư anh bảo tôi: "Chúc mừng anh. Lần trước
gặp anh mới làm phụ tá kỹ sư, chỉ 5 năm đã làm trùm của mấy ông kỹ sư
rồi. Ðúng là thăng quan như gió". Nghe thế tôi cười méo xệch mà chẳng
biết nói làm sao. Bởi anh bạn ấy có tin không nếu tôi kể rằng ngoài
chuyện lên chức, tôi cũng đã từng kiếm ra rồi mất mười triệu Mỹ kim
trong khoảng thời gian 4 năm ngắn ngủi đó. Có nhiều đêm đang ngủ giật
mình tỉnh dậy, tôi cứ có cảm tưởng như chuyện thành triệu phú rồi mất
hết tiền đó chỉ là một giấc mơ, cũng như giấc mơ "nồi kê chưa chín" của
anh học trò người Tàu thuở xưa vậy.
Hạnh phúc lạ lùng
Nhưng có một chuyện rất thật là bệnh tình của vợ tôi càng ngày càng
trầm trọng, và tôi phải mang nàng về nhà vì bác sĩ đã lắc đầu thúc thủ,
chẳng biết phải chữa thế nào. Nàng vẫn đi lại được một cách khó khăn,
nhưng như một đóa hoa héo úa, người nàng gầy xọp, và chỉ thỉnh thoảng
nói tiếng được tiếng không. Nhiều đêm mệt mỏi công việc ở sở trở về nhà
nhìn dáng nàng tiều tụy mà vẫn cố gắng run rẩy nấu nướng hâm nóng đồ ăn
cho chồng, vẫn phục vụ vô điều kiện như ngày xưa, bất giác tôi rơi nước
mắt.
Thì ra, sau bao nhiêu năm trời bạc đãi người bạn trăm năm, cuối cùng
trời đã dạy tôi một bài học kỳ lạ bằng cách bắt tôi mất hết tiền vì tay
người ấy, rồi từ từ cướp đi người ấy từ tay tôi. Ðã bao nhiêu lần tôi
ghì nàng vào lòng, nhắn nhủ: "Em hãy quên hết chuyện tiền bạc. Phải cố
tĩnh dưỡng. Bác sĩ nói có thể tâm lý là yếu tố lớn. Dù sao, anh nhất
định chữa chạy cho em!" Có khi nàng cố gật đầu một cách mệt mỏi. Có khi
nàng chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt muôn đời khó hiểu y hệt ngày chúng tôi
mới quen nhau.
Một ngày cuối tuần tôi nảy ra ý nghĩ giản dị là nên dẫn nàng ra ngoài đi
bộ vì đi bộ chẳng có hại gì, và biết đâu có một ích lợi gì đó cho căn
bệnh kỳ lạ của nàng. Mới vừa đi được hơn trăm thước, chúng tôi gặp một
ông già người Á đông đi ngược lại. Ông và tôi đã biết mặt nhau, nhưng
những lần trước hoặc tôi sắp lái xe đi, hoặc đang lái xe, hoặc sắp đóng
cửa xe vào nhà nên chỉ vẫy tay chào nhau lấy lệ. Lần này chúng tôi đi
qua mặt nhau chỉ cách không đầy một thước tây.
Tôi lên tiếng chào ông và giới thiệu vợ tôi. Ông chào lại, rồi thêm:
-Bệnh của vợ ông cần chữa ngay đi, đừng để trễ quá thành kinh niên.
Lẽ thường tôi đã lờ câu nói này đi, nhưng chẳng hiểu sao linh tính xúi
dục tôi tiếp tục cuộc đàm thoại:
-Thưa ông, bác sĩ bảo bệnh vợ tôi không chữa được.
Tưởng ông già nghe thế sẽ không nói nữa, ngờ đâu ông tỉnh bơ nói lại:
-Gì mà chữa không được. Tôi nhìn mặt là biết rồi. Bệnh này rất thông
thường.
Hỏi ra mới biết ông là thầy thuốc chuyên môn chữa bằng thảo mộc. Nghe
ông khẳng quyết bêänh vợ tôi chẳng có gì là nan y tôi chẳng thể tin
được. Nhưng vợ chồng tôi đã vào hoàn cảnh tuyệt vọng, thì còn gì để mất.
Thêá là ngày hôm sau tôi mang về nhà 10 bao giấy, mỗi bao chứa một
"thang" thuốc. Ông thầy đã bảo tôi "bảo đảm với ông, bà nhà sau 7 thang
là khỏi, 3 thang kia uống trong thời gian phục hồi."
Nghe thì hoang đường, ai ngờ chỉ mới uống hết thang đầu, hôm sau vợ tôi
đã thấy đỡ hẳn. Còn sớm hơn lời của ông thầy, chỉ uống hết 5 thang là vợ
tôi bình phục. Ông thầy đến tận nhà bắt mạch, rồi bảo tôi là nàng chẳng
cần uống 5 thang còn lại nữa. Và anh có thể tưởng tượng được không là
toàn thể số tiền mà tôi phải đưa cho ông thầy còn ít hơn một lần đi bác
sĩ. Nhưng đó là tôi chỉ nói cho có dữ kiện. Ðiểm chính là ông thầy đã
cứu sống vợ tôi, và hình như ông chẳng hề tin chuyện ấy. Khi tôi nói vợ
chồng tôi mang ơn cứu tử, ông đáp "Cái gì mà mang ơn. Tôi đã bảo ông đây
là một bệnh rất thường. Thầy thuốc tàu hoặc ta trung cấp nhìn ra ngay."
Về sau này chứng thực được là ông thầy thuốc nói đúng, tôi chợt hiểu ra
hay nói đúng hơn là tôi đoán ra cái ý của trời đất. Nếu không mất hết
bấy nhiêu triệu thì chẳng bao lâu sau vợ chồng tôi sẽ rời đi nơi khác,
và vốn tin tưởng tây y tuyệt đối khi bệnh của vợ tôi tái phát có lẽ tôi
sẽ dồn hết tiền vào tây y, để rồi càng chữa vợ tôi càng héo úa. Hóa ra,
số tiền 10 triệu ấy là cái giá để chữa bệnh cho vợ tôi. Nhưng có lẽ quan
trọng hơn nữa, nó là cái giá để tôi tìm ra cái chân giá trị của tình yêu
vợ chồng.
Từ khi khỏi bệnh vợ tôi vẫn cư xử với tôi đầm ấm như xưa, nhưng tôi thì
hoàn toàn đổi khác. Tôi không còn xem nàng như một món đồ chơi nữa, mà
kính trọng nàng như một người bạn đời đúng nghĩa. Anh có thể nói chúng
tôi là một cặp vợ chồng đã tìm ra hạnh phúc. Nhưng tôi nghĩ có lẽ vợ
chồng tôi còn hạnh phúc hơn những cặp vợ chồng hạnh phúc khác, bởi chúng
tôi biết một cách thật rõ ràng rằng tiền bạc, ngay cả bạc triệu hoặc 10
triệu, chỉ có giá trị như giấc mộng hoàng lương; và nhiều khi phải mất
hết tiền người ta mới tìm ra hạnh phúc
San Jose 28 tháng 5, 2004
Người Ngoài Phố
|