trà

tửu

hậu

người ngoài phố

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

bài viết

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những chuyện trà dư tửu hậu
Ghi chép của Người Ngoài Phố

Kỳ 10: ba đời vì đất nước

Lời đầu: Những chuyện trà dư tửu hậu được ghi chép lại từ ngoài đời. Có khi là ghi nhận trực tiếp, có khi là ghi lại theo lời kể của người khác. Ðể tránh hiểu lầm hoặc va chạm ngoài ý muốn, người viết đã tái phối trí dữ kiện và nhân vật; hy vọng không vì thế mà làm hư ý chính.

Chưa kịp xin lỗi đã đến trễ vì có việc, tôi nhận ra là không khí buổi trà dư tửu hậu đêm nay có phần trầm lắng, ắt hẳn vì trùng ngày 30 tháng 4. Thấy mọi con mắt đều hướng về phía V. trong khi anh thao thao bất tuyệt tôi có phần ngạc nhiên, vì từ ngày nhập bọn tán láo với chúng tôi kể cũng hơn năm nay, V. hay bàn nhưng chưa từng kể chuyện bao giờ. Tưởng đã mất đoạn đầu, không ngờ V. có nhã ý vì tôi mà nhắc lại. Câu chuyện của V. là:

Ba đời vì đất nước
(chuyện kể của N.)
Ðại hội người Việt hải ngoại ở Oklahoma
Ðó là năm 1979. Hay là 1980 nhỉ? Dù sao cũng đã hơn hai mươi năm trôi qua rồi, trí nhớ tôi thì ngày càng kém cỏi. Mong rằng có sai đi một năm các bạn cũng bỏ qua.
Lúc ấy mới là bốn, năm năm sau biến cố 1975 nên nước nhà là đề tài nóng hổi ở mọi nơi. Tôi đang là một sinh viên cao học ở đại học N., vừa đắc cử chức tổng thư ký hội sinh viên nhiệm kỳ 1979-1980, đang đánh bi da ăn mừng trong phòng giải trí của đại học thì một thanh niên đến nơi. Anh tự giới thiệu là G. Bắt tay anh, tôi ngờ ngợ hỏi "Anh học ngành gì mà sao tôi chưa biết mặt?" G trả lời rằng vì lý do riêng anh đã bỏ học đi làm mấy năm rồi nên tôi chưa gặp không có gì lạ. Anh bảo lý do khiến anh muốn nói chuyện với tôi là vì ông nội của anh, cụ K, bảo anh nên hỏi tôi xem có định đi dự "Ðại Hội Người Việt" sắp được tổ chức ở Oklahoma city không? Nếu có định thì mời tôi đi theo cùng xe cho vui.
Thú thực lúc ấy khái niệm của tôi về đất nước rất mơ hồ. Một lý do là tôi du học từ năm 1972 trước mùa hè đỏ lửa nên chỉ biết đoạn kết của cuộc chiến qua TV Mỹ. Rồi anh em tôi tị nạn ba đợt khác nhau nhưng đều suông sẻ và cùng định cư một nơi ở California. Bản thân và gia đình yên ổn có lẽ là lý do khiến tôi hờ hững với những thảm cảnh của nước nhà.
Nhưng tôi đã nghe lời đồn là "Ðại Hội Người Việt ở Oklahoma" là nỗ lực quy mô đầu tiên, quy tụ rất nhiều khuôn mặt đấu tranh của người Việt hải ngoại ở khắp thế giới, tất nhiên phải hết sức náo nhiệt. Bấy nhiêu đủ gợi tính tò mò vốn rất mạnh trong thời tuổi trẻ của tôi.
Còn có một lý do khác khiến tôi nhận lời. Theo lời kể của G thì ông nội của anh đã trên 70. Một cụ già trên 70 mà chịu ngồi xe đi mấy trăm dặm chỉ để làm khán giả trong một đại hội hoặc phải có lý do đặc biệt hoặc phải là một người hết sức đặc biệt.

Uy lực của âm nhạc
Với một cậu thanh niên vô kinh nghiệm sinh hoạt cộng đồng như tôi trong thời gian ấy, tham dự Ðại Hội Người Việt Hải Ngoại ở Oklahoma (ÐHNVHNO) đúng là một kinh nghiệm mở mắt; và kinh nghiệm này có dính líu đến sức mạnh vô biên của âm nhạc.
Sau nhiều giờ lái xe, chúng tôi đến nơi tổ chức đại hội. Ðây là một khách sạn khá sang trọng trong thành phố Oklahoma. Hình như ban tổ chức đại hội đã bao luôn một tầng lầu vì tôi nhớ mang máng là G và tôi đã ngủ dã chiến ngay dưới sàn một phòng rất rộng với nhiều người đàn ông khác cả hai đêm trong thời gian dự đại hội. Ðêm đầu tiên trong khi chưa chịu ngủ, còn đang bàn luận hăng say (nhưng bằng giọng thì thào) với G về tình hình đất nước trong căn phòng ngủ dã chiến này, tôi nghe tiếng đàn ghi ta và một giọng hát buồn buồn vọng vào qua khe cửa. Một lát sau thì nghe phong phanh một giọng nói thanh niên "Mời quý vị cùng tham dự với Việt Dzũng". Khi thấy năm bảy người lồm cồm ngồi dậy mở cửa bỏ ra ngoài, tôi hỏi một anh bạn chung phòng nằm gần bên "Việt Dzũng là ai vậy?" Anh này trả lời: "Anh không biết à? Việt Dzũng là hiện tượng âm nhạc mới. Người Việt hải ngoại ai mà không biết." Rồi anh khẳng định "Việt Dzũng hay hơn Trịnh Công Sơn!"
Phải nhìn nhận là tôi nhà quê vì đó là lần đầu tiên tôi nghe đến tên tuổi của Việt Dzũng. Không tin anh bạn mới chưa quen cho lắm, lại còn đang ở giữa cuộc tranh luận nhiều đề tài với anh G, tôi không mở cửa ra ngoài. Rồi cái mỏi mệt của chuyến đi dài kéo tôi vào giấc ngủ lúc nào không biết.
Hôm sau là ngày chính của đại hội, với rất nhiều diễn giả từ mọi nơi trên thế giới thay phiên nhau lên bục bày tỏ cảm tưởng và đưa kiến nghị cho các cộng đồng người Việt ở mọi nơi trên thế giới. Tôi còn nhớ trong số đó có ông Võ Ðại Tôn, sau này về nước đấu tranh bị bắt, và đã tùy cơ ứng biến đánh lừa được những người bắt ông cho ông "thú tội" trước ống kính truyền thông thế giới. Ông đã dùng cơ hội này để khẳng định chính nghĩa của những người chống lại nhà cầm quyền cộng sản. Hình ảnh và âm thanh cuộc họp báo lịch sử này được truyền đi khắp nơi, và ông trở thành một hình ảnh anh hùng đấu tranh của người Việt hải ngoại. Tôi nghe trong đại hội cũng có ông Hoàng Cơ Minh, nhưng chỉ là nghe thôi không chắc. Ông Hoàng Cơ Minh thì khỏi cần giới thiệu, tức là thủ lãnh sau này của một tổ chức lắm người yêu nhiều kẻ ghét thường được gọi tắt là Mặt Trận hoặc Kháng Chiến.
Nhưng tôi đã lạc đề rồi. Trở lại câu chuyện. Giờ nghỉ trưa, trong khi mấy trăm tham dự viên chúng tôi ăn uống dã chiến ở ngay các chỗ ngồi thì trên sân khấu Việt Dzũng trình bày những bản nhạc trong tập Kinh Tỵ Nạn của anh. Khởi đầu bận vừa ăn uống vừa trò chuyện với vài người quen mới tôi không mấy chú ý đến những lời anh hát. Nhưng nhạc Việt Dzũng có nhiều đoạn lên cao xuống thấp đột ngột, và lời nhạc thì phù hợp với bối cảnh lịch sử của người tỵ nạn thời ấy làm sao.
Tôi vốn rất thích nhạc, nhưng có khuyết điểm là rất ít khi nhớ lời của các ca khúc. Thế mà sau đại hội này tôi đã tìm học thuộc lòng khá nhiều bản của Việt Dzũng trong tập kinh Tỵ Nạn. Bài "Một món quà cho quê hương" các bạn đã nghe nhiều quá tôi không nhắc làm gì. Nhưng Việt Dzũng còn nhiều bài rất thấm thía khác ít người biết. Nhân gần ngày 30 tháng tư, tôi xin nhắc lại vài đoạn mà tôi còn nhớ. Ðoạn sau đây từ trong bài "Lời kinh đêm"
"Lời kinh đêm ôi lời kinh đêm
"Lời kinh buồn như tiếng mẹ thở dài
"Ai có nghe thấu lời kinh khổ
"Sao cúi mặt gục đầu ngủ say
...
"Trời mông mênh ôi thuyền lênh đênh
"Người vẫn ôm mảnh ván du mục
"Lời kinh cầu từng hồi nấc nghẹn
"Lời mẹ buồn giữa tiếng Amen
"Người xuôi tay về nơi đáy nước
"Người có mộng một nấm mộ xanh
"Biển ngu ngơ hay biển man rợ
"Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ
Và dĩ nhiên phải nói đến bài "Chuyện kể", ghi lại lời kể lể của một nạn nhân thời cuộc:
"Mẹ tôi chết trên đường di cư
"Xác của mẹ vùi đắp bên bờ
"Trong hoang tàn đạn bom làm dấu
"Chung quanh mẹ một vùng hoang sơ
"Anh tôi chết núi rừng âm u
"Trong một đêm lùng kiếm quân thù
"Trong lửa đạn Pleiku đồi máu
"Anh ngã gục hồn lìa thiên thu
"Chị tôi chết trong trại tạm cư
"Sau một đêm lệ nhỏ sa mù
"Mộ của chị màu hoang cỏ rũ
"Nắm xương tàn một vùng hoang vu
"Còn ai nữa và còn ai nữa
"Dân tộc tôi một vành khăn sô
"Còn ai nữa và còn ai nữa
"Quê hương tôi một dòng lệ khô
"Quê hương tôi chết một ngày cuối tháng tư
"Theo chân đoàn người về cõi xa mù
"Giờ lặng người nhớ
"Bấy nhiêu năm trời
"Tháng năm qua rồi
"Còn nhớ mãi người ơi...
Còn nhiều nữa, như "bài ca dao cho mẹ" viết cho tâm tình giản dị của một người mẹ Việt Nam, hy sinh hết cả đời cho đứa con trai, rồi bị kéo theo làn sóng tỵ nạn chạy sang đất lạ quê người, buồn chết trước khi đứa con trai vượt biển đến nơi. Phần cuối có đoạn này "Rồi con tìm đến, một chiều đông sau bao nhiêu tháng ngày lênh đênh trên biển, mộ hoang chiều tím, tàn nén hương cho nỗi buồn lang thang sầu kín..."
Càng nghe Việt Dzũng hát tôi càng thấy thấm nỗi xót xa của kẻ tỵ nạn tha hương. Mà không phải mình tôi. Nhìn quanh tôi thấy nhiều người ngừng ăn chăm chú lắng nghe. Tôi thấy cả vài người buông những giòng lệ sùi sụt, nghẹn ngào. Từ bài thứ hai, thứ ba trở đi, mỗi khi Việt Dzũng dứt lời là tràng pháo tay lại nổi lên cho đến khi anh bắt hết câu đầu bài khác mới thôi.
Tôi không biết những người khác nghe Việt Dzũng xúc động ra sao, nhưng tôi nhìn nhận là hôm ấy anh đã thay đổi tôi một cách hoàn toàn. Từ thái độ bàng quan dửng dưng, lòng tôi bỗng dấy lên một tâm tình kỳ lạ, vừa xót xa vừa náo nức, muốn làm một cái gì đó thật ý nghĩa cho quê hương dân tộc.
Bây giờ, hơn 20 năm đã qua, Việt Dzũng không còn là một hiện tượng; nhưng tôi vẫn còn nhớ mãi hình ảnh hôm ấy anh chống nạng cầm ghi ta trên sân khấu, bi tráng như một thiên thần gẫy cánh.

Mặt trái của sinh hoạt cộng đồng
Ông Lương Khải Siêu mượn ý nhà Phật viết "Cảnh là tâm". Câu này thật đúng với tôi ngày hôm ấy. Mới buổi sáng còn là một kẻ có mặt miễn cưỡng hững hờ, vậy mà buổi chiều tôi trăm phần chú mục, nhất định không bỏ sót một chi tiết nào.
Cũng vì lý do đó, buổi sáng tôi có hơi khó chịu vì mỗi khi có một diễn giả sắp bước lên bục cụ K lại ghé tai tôi nói thì thầm vài điều; nhưng buổi chiều, khi lắng tai nghe kỹ từng lời cụ nói tôi lại thán phục cụ, vì hình như chẳng có diễn giả nào mà cụ không biết. Phòng họp chứa được ba bốn trăm người nhưng số người tham dự chỉ trên dưới hai trăm nên còn nhiều ghế trống. Cụ K, G. và tôi cố ý ngồi ở một chỗ gần phía sau, cách mấy ghế mới có người. Nhờ không sợ lộ, tôi được nghe những ý kiến rất thẳng của cụ K.; chẳng hạn diễn giả A đáng tin, có thể cộng tác mà không sợ đâm sau lưng; nhưng diễn giả B thì thuộc loại miệng thơn thớt dạ ớt ngâm, phải cẩn mật đề phòng...
Nếu xét về mặt nổi thì đại hội này sau đó chẳng dẫn đến một kết quả đáng kể nào, nhưng với những cá nhân tập tễnh đi vào sinh hoạt cộng đồng như tôi đó là một kinh nghiệm vô cùng quý báu. Tôi học được ngay một điều là giới hoạt động cũng y như cuộc đời thu nhỏ, chẳng phải chỉ có những người cùng chí cùng ý, cùng chí khác ý, mà còn có những kẻ lợi dụng danh nghĩa để trục lợi, hoặc những người hoang mang tưởng đóng góp mà thực ra chỉ gây thêm rắc rối. Người dạy dỗ tôi bài học đấu tranh vỡ lòng này dĩ nhiên cũng là cụ K.
Một ông dáng to béo phúc hậu đi ngang hàng ghế, cung kính cúi chào cụ K. rồi tất tả lên ngồi gần sân khấu. Mượn giờ giải lao ồn ào sau đó, cụ K bảo tôi đó là ông T, từng lợi dụng danh nghĩa cộng đồng người Việt tiểu bang R xin tiền chính phủ mở một cơ sở dịch vụ cho người tỵ nạn, rồi thay vì phục vụ lại lấy tiền bỏ túi bằng cách mở những lớp "ma" luyện tiếng Anh, huấn nghệ v.v... thật trắng trợn. Hậu quả là cơ sở bị FBI đóng cửa, nhưng ông T chẳng hiểu sao chỉ bị xử tù treo. Cụ nói "Tờ báo lớn nhất của tiểu bang viết bài bình luận đại khái nói 'người Việt Nam đã quen thói gian xảo ở nước họ, nhưng sang Mỹ tiếp tục giở trò đó thì không được đâu', thật là một mối nhục cho cộng đồng". Anh G. bổ túc thêm rằng cụ K, lúc ấy còn ở tiểu bang R, cùng một số bô lão khác phải đại diện cộng đồng yêu cầu tờ báo này rút lại lời bình luận "vơ đũa cả nắm" đó. Trong tinh thần cảm thông, tờ báo đồng ý xin lỗi cộng đồng người Việt. Tựu chung, từ câu chuyện thì ông T. là một loại con sâu làm rầu nồi canh. Cụ K kết luận "Ông T dám bất chấp lệnh tù treo không được rời tiểu bang, sang đây dự đại hội chắc chắn là phải có tính toán gì đây." Tôi không theo dõi cuộc đời của ông T sau đó nên không biết diễn biến ra sao, nhưng tôi nghĩ lời đoán của cụ K. rất hợp lý. Tôi cũng thầm cám ơn cụ bài học xét người, chẳng thể nào chỉ dựa theo nét phúc hậu bề ngoài.
Về một diễn giả có dáng dấp đứng đắn, nhưng lối trình bày vấn đề không mấy mạch lạc, nói đúng hơn là khá nhàm chán, cụ bảo tôi: "Ông X. này thì chuyên môn đặt điều nói dối như cụ H. nhà mình. Có nghề ném đá dấu tay, hay tự khen mình và bài bác người mình ghét. Anh mà bị ông ấy ghét thì sẽ thấy bài báo viết chửi mà chẳng biết ai viết, và chẳng biết người viết thù oán mình vì lý do gì." Thú thật lúc ấy tôi vẫn cho là cụ quá chủ quan, sau đọc được một bài báo viết về đại hội, có đoạn đại khái như thế này "Bài diễn thuyết của ông X. được hội trường hoan hô nồng nhiệt hơn cả, vì ông bằng cấp cao mà khiêm nhượng, lại nói thẳng vào vấn đề không vòng vo như một số diễn giả khác, chẳng hạn như..." Ðiều tra thêm thì khám phá ra người viết quả là ông X. Lúc ấy tôi mới phục cụ K. quả biết người chính xác.

Vài huyền thoại chẳng biết đúng sai
Trên đường về, có nhiều thời gian ngồi chung xe, tôi được nghe cụ K kể thêm lắm chuyện lạ kỳ; trong đó có cả một số chuyện dính líu đến các nhân vật lịch sử. Chẳng hạn chuyện ông Ngô Ðình Diệm bị Việt Minh lùng bắt, phải trốn trong một đụn lúa. Việt Minh dùng mác thọc vào từng đụn lúa một, nhưng chẳng hiểu sao đến đúng đụn lúa có ông Diệm bên trong lại thôi. Nhờ sự may mắn kỳ lạ này, ông Diệm mới còn sống, sau thành tổng thống đệ nhất cộng hòa. Lại thêm chuyện Việt Nam Quốc Dân Ðảng được thành lập hoàn toàn do một tình cờ. Khá lý thú là chuyện một nhân vật của đảng CS khác họ và chữ lót nhưng trùng tên riêng với cụ tỉnh bơ mập mờ nhận vơ một số thành quả hoạt động của cụ.
Những chuyện này chẳng biết có thật không, và có thật thì đúng mấy mươi phần trăm, nhưng tôi thấy chuyện giả tên nhận vơ thành tích thật lý thú, vì nó giống như chuyện ông em của Cừu Thiên Nhận giả làm ông anh võ công cao cường để nồ thiên hạ trong truyện "anh hùng xạ điêu" của Kim Dung. Cô Hoàng Dung khôn ngoan nhận ra ngay các trò giả mạo này, nên cứ tưởng Cừu Thiên Nhận là phường hữu danh vô thực, sau gặp Cừu Thiên Nhận thật bị trúng một chưởng suýt chết, lúc ấy mới hiểu ý nghĩa chân thực của câu "thật giả khó phân".

Ðã hai đời cách mạng
Ðiểm đáng chú ý là mặc dù kể rất nhiều chuyện, từ đầu đến cuối cụ K chẳng hề giới thiệu cụ là ai. Nhưng trong giờ giải lao chiều ngày chính buổi đại hội, thấy mười mấy người xưng là cư ngụ ở nhiều nơi khác nhau lần lượt đến cung kính vấn an cụ K, tôi đã mơ hồ đoán ra rằng cụ phải là một nhân vật có tiếng của miền Nam trước kia.
Tình cờ làm sao, sau khi chúng tôi trở lại tiểu bang N. thì có một nhân vật nữ xuất hiện và mau chóng trở thành một khuôn mặt sáng chói của cộng đồng. Tôi sẽ gọi cô là cô B. Phải nhìn nhận cô B có biệt tài miệng lưỡi, từ diễn thuyết trước đám đông đến thuyết phục một nhóm nhỏ người, đến giờ tôi vẫn chưa gặp ai đạt kết quả nhanh chóng bằng cô. Hóa ra cô B là dòng dõi họ hàng của một nhà cách mạng lừng danh thời kháng pháp. Tôi biết cô B qua một dịp tình cờ khác trong sinh hoạt cộng đồng, chẳng có gì đáng nói, nhưng nhờ cô mà tôi biết thêm về cụ K và anh G.
Theo lời kể của cô B. ông bà cha mẹ cô có biết cụ K từ trước "trong tình cách mạng". Cô nói cụ K không chỉ là một chứng nhân lịch sử mà là một người đã từng góp phần vào lịch sử, vì cụ là một trong những sáng lập viên của "Việt Cách". Theo tôi hiểu "Việt Cách" là tên tắt của Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội (hay là "Ðồng Chí Hội"? Tôi không thuộc lòng lịch sử, mong các bạn đừng bắt bẻ). Một người thuộc hàng cha chú của tôi có lần bảo tôi rằng Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội là tổ chức đầu tiên có tên tắt là Việt Minh. Sau khi lập được một số thành tích thì bị một tổ chức khác lấy tên gần giống là Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội, mập mờ tự nhận là Việt Minh. Tôi chẳng biết chuyện "cướp danh nghĩa" này thực hư ra sao nên chỉ ghi lại như một chuyện kể, xin nhường phần kiểm chứng và ý kiến cho các nhà nghiên cứu sử.
Cũng theo cô B, cha của G (tức một người con trai của cụ K) thấm nhuần lý tưởng của cha nên cũng đã hăng say đóng góp cho đất nước. Cha của G bỏ công quy tụ một nhóm trí thức có cùng tâm nguyện, ra tờ tạp chí AG tranh thủ nhân tâm bằng chữ nghĩa, mong xây dựng một lớp quần chúng yêu nước có ý thức để đóng góp cho tiền đồ của dân tộc. Tờ AG thì tôi đã nghe và một số bạn có thể biết, râát có uy tín trong giới trí thức VN trước 1975. Khi biến cố 1975 xảy ra, biết là lý tưởng của mình sẽ bị phe chiêán thắng đè nén, cha của G đã quyết định tự tử chết.

Ðoàn thanh niên TQT
Câu chuyện kể của cô B khiến tôi bàng hoàng, đoán ra phần nào lý do tại sao G lại đến làm thân với một người lạ như tôi. Ông nội và cha đều đã tận tụy vì đất nước, cha lại tự kết liễu cuộc đời khi nguyện ước không thành. Hoàn cảnh ấy khiến G dù muốn hay không cũng trở thành kẻ kế thừa một truyền thống hy sinh đã kéo dài liên tục tối thiểu hai đời trước. Phải chăng ngay cả việc anh nghỉ học sớm đi làm để có phương tiện tài chánh hơn những người cùng tuổi cũng có lý do, như anh biết phải hy sinh những năm đẹp nhất của tuổi thanh xuân cho hoạt động đấu tranh chẳng hạn.
Như một diễn biến tự nhiên, sau đó bao lâu đoàn thanh niên TQT được thành lập với G là đoàn trưởng, cô B và tôi cộng với vài người nữa phụ anh trong ban quản trị. Mỗi cuối tuần chúng tôi đều họp ở nhà anh G. Thú thật sinh hoạt của chúng tôi chẳng có gì đáng nói, chỉ là một đám mười mấy hai mươi người trẻ tuổi có nam có nữ gặp nhau đàn ca hát xướng, thỉnh thoảng nói năng qua quýt chuyện ý thức và trách nhiệm tuổi thanh niên.
Chẳng cần thông minh cũng đoán được một số các thành viên tham dự đoàn TQT vì thấy trong đoàn có nhiều người khác phái hơn là vì lý tưởng. Một lần vấn đề này được đưa ra trong ban quản trị. Tôi nhớ cụ K thường chỉ ngồi ngoài chẳng bao giờ đưa ý kiến, nhưng lần này cụ lại cười vui bảo chúng tôi: "Hoạt động để xây dưng. Trai gái gặp nhau, tìm hiểu nhau, yêu mến nhau là chuyện xây dựng. Mọi chuyện xây dựng đều tốt cả." Khi nghe thấy kỳ kỳ làm sao, sau này nghĩ lại quả là một chân lý thực tế.

Người ra đi vĩnh viễn
Chúng tôi có tổ chức được một buổi văn nghệ. Thành công tính theo tiêu chuẩn là có khá đông người dự. Nhưng hình như chương trình này là thành tích đáng kể duy nhất của đoàn TQT trong thời gian khá ngắn ngủi có sự tham dự của tôi. Rồi đời tẽ ra như những nhánh sông. Ðoàn TQT thành lập được một năm cũng là lúc tôi ra trường, về sinh hoạt cộng đồng ở Cali, và cần nói thêm là sống bám anh em ở đó dài dài suốt hai năm trước khi nhận một việc làm do ông anh ruột giới thiệu.
Ngày tôi rời tiểu bang N. một số bạn hữu có tổ chức tiễn đưa ở ngay phi trường. Anh G cũng có mặt. Anh tặng tôi một tấm thiệp, mở ra ngoài lời chúc thượng lộ bình an tôi thấy thêm câu "Nước non nặng một lời thề". Hiển nhiên là câu đó anh viết cho tôi, nhưng chẳng hiểu sao khi đọc tôi có ý nghĩ câu ấy anh viết từ vô thức, vì nó diễn tả thật đúng hoàn cảnh của anh.
Trong hai năm sinh hoạt cộng đồng toàn thời gian ở Cali, có lẽ một phần vì áp lực của hoàn cảnh tài chánh eo hẹp mà tôi mất lần các liên hệ cũ. Chỉ một lần tôi được nghe về đoàn TQT qua một cựu sinh viên đại học N. về Cali làm việc sau khi ra trường. Anh này bảo G có ý trách tôi đã lạm dụng lòng tin, đẩy các đoàn viên theo một con đường "không phải". Anh cựu sinh viên này không phải là đoàn viên TQT khi tôi còn ở tiểu bang N. nên tôi chẳng biết nên tin hay không. Nhưng rất có thể G đã nghĩ như vậy về tôi, và -khi tôi nghĩ kỹ lại- rất có thể là anh đúng. Vì cần nói rõ rằng tôi tham dự đoàn TQT chỉ vì cảm tấm lòng hy sinh của gia đình cụ Kh và anh G. Lý do rất cá nhân đó chẳng thể là ngọn đuốc chỉ đạo đấu tranh, nên nếu tôi đi sai đường cũng chẳng có gì là lạ.
Trong những đêm khuya làm báo đấu tranh một mình khi mới về Cali, thỉnh thoảng tôi lại nghĩ đến anh G. Trái với cụ Kh, anh không có tài ăn nói, và tôi có cảm tưởng anh không mấy thoải mái trong một đám đông. Một người nội hướng như anh mà phải kế thừa truyền thống cách mạng của ông và cha thì thật là đã mang một gánh quá nặng trên vai, chẳng biết rồi anh có chịu đựng nổi hay không.
Một năm nào đó đầu thập niên 1990 có người bảo tôi là G. đã qua đời vì bịnh tim. Thời gian khiến trí óc tôi lu mờ, nhưng nếu tôi nhớ không lầm thì G. thua tôi một tuổi, và anh mất khi chưa đến 40, để lại vợ và một đứa con trai mười mấy tuổi. Khi nghe tin này tôi không khỏi thương cảm cho vợ anh sớm thành góa phụ. Nhớ lại chị G luôn luôn vui vẻ tiếp đãi các đoàn viên mỗi cuối tuần mà không nề hà mệt nhọc. Tình nguyện làm dâu một gia đình cách mạng hẳn chị đã sẵn sàng cho câu tử biệt sinh ly, nhưng có lẽ chị không ngờ kẻ cướp đi người chồng mến yêu của chị chẳng phải là đối thủ trên đường đấu tranh mà là ông thần của tật bệnh.
Về G, tôi nhớ lại nét lúng túng thiếu tự nhiên của anh mỗi lần anh phải nói bài mào đầu cho cuộc họp cuối tuần của đoàn TQT, nhớ lại dáng dấp nhỏ bé, cặp kính trắng dày cộm khiến anh trông như một ông cụ non ở tuổi chưa đến 30. Ở tiểu bang N. hoang dã người Việt chẳng có bao nhiêu mà áp lực kim tiền thì chẳng thua nơi nào khác trên nước Mỹ, anh sẽ đóng góp được gì cho hoàn cảnh quá phức tạp của đất nước? Nghĩ lại, biết đâu sự ra đi của anh là một an bài cố ý của thượng đế, để anh thoát ra được cái trách nhiệm quá khó khăn mà tìm được sự bình yên ở nơi vĩnh cửu.

Lá vàng còn ở lại
Còn cụ K.? Tôi nhớ một hay hai năm gì đó sau khi về Cali, một lần tôi nhận được điện thoại của cụ. Cụ bảo tôi "Tình thế đang có nhiều biến chuyển" và nhắn nhủ tôi phải "tùy cơ ứng biến, đừng đi vào vết xe đổ của thế hệ cũ chúng tôi". Ðó là lần duy nhất tôi nói chuyện với cụ từ khi rời tiểu bang N. Mấy năm nay có vài lần tôi đi N. Một lần tình cờ gặp lại vài người bạn cũ, có người bảo tôi cụ K. vẫn còn sống và vẫn tráng kiện. Nhẩm tay tính ra thì đến nay cụ phải gần trăm tuổi rồi.
Có bạn sẽ hỏi tại sao tôi đi tiểu bang N. nhiêàu lần mà không ghé vấn an cụ. Tôi cũng nhiều lần tự đặt câu hỏi này với chính mình. Có lẽ vì tôi chủ quan, cho rằng khi cụ bảo G mời tôi đi dự Ðại Hội Người Việt ở Oklahoma năm xưa là cụ đã đặt ở tôi một kỳ vọng nào đó. Mỗi người một quan điểm. Ðã quá tuổi "tri thiên mệnh" tôi không thấy hổ thẹn gì về những việc tôi làm và không làm mười mấy hai mươi năm qua; nhưng chính vì mỗi người một quan điểm, biết đâu cụ K. sẽ vô cùng thất vọng khi gặp lại tôi? Gia đình cụ đã hy sinh quá nhiều cho đất nước, riêng cụ lại bị trời bắt chịu cảnh oái oăm như lá vàng nhìn hai đợt lá xanh lìa cành về cội; làm sao tôi dám để một người như cụ thất vọng vì tôi?

Sóng đáy
Sau khi V. đã cáo lỗi bỏ về khá lâu rồi, chúng tôi tản mạn đủ thứ, nhưng chẳng hiểu tại sao rồi lại quay trở về câu chuyện của anh. Một gia đình ba đời liên tiếp hy sinh cho đất nước? Chuyện này có thể có thật hay không? Một anh bạn khẳng định:
-Nếu có gia đình cụ K ở tiểu bang N. ta tra là ra ngay chứ gì. Thế nên tôi chắc chắn chuyện kể của V. là thật.
Anh khác nói giọng hồ nghi:
-Nhưng theo chuyện V. vừa kể thì hắn trước đây hoạt động đấu tranh dữ lắm. Vậy sao quen biết bấy lâu hắn chẳng nói năng gì cả, bất thần đêm nay...
Ắt hẳn anh bạn này muốn nói khéo rằng V. nói dối. Anh bạn thứ nhất trả lời:
-Tôi lại không thấy gì là lạ. Hãy giả sử V. quả thật đã từng hăng say hoạt động đấu tranh, tại sao hắn phải bô bô kể những chuyện này cho chúng ta nghe từ trước? Tôi nghĩ ngay trong sinh hoạt cộng đồng cũng có hai mặt. Mặt nổi và mặt chìm. Mặt nổi như những bọt sóng ồn ào chứa đầy những rác rưởi tệ đoan nên dễ khiến kẻ bàng quan chán nản. Nhưng những xây dựng thì thường ở mặt chìm như, như gì nhỉ, có một cái tên hay lắm mà sao tôi bỗng quên mất.
"À, phải rồi, sinh hoạt xây dựng -như của gia đình cụ K- là những đợt 'sóng đáy', nó đánh tan đi những bọt sóng trên mặt nước lúc nào ta không hay biết. Ta không thể thấy sóng đáy, nhưng từ lý luận ta biết sóng đáy đã liên tục tồn tại, vì nếu không có sóng đáy thì đất nước đầy bọt sóng của chúng ta đã biến mất trên bản đồ thế giới từ lâu rồi...
Chúng tôi ồ lên khen ngợi. "Sóng đáy", một danh từ thật hay, không chỉ kêu mà còn đầy ý nghĩa.
Ngay lúc đó, chuông đồng hồ điểm 12 giờ đêm. Lại thêm một ngày 30 tháng tư đã trôi qua ở bắc Cali.

San José 30 tháng 4, 2004
Người Ngoài Phố

 

 

This page was last updated 03/16/05