|
30-4-2005,
Nhớ lại Những Ngày Hấp Hối Của Sài
Gòn
HỒ ĐINH
Thương nhớ và kính trọng tất cả những anh
hùng-liệt nữ đã vị quốc vong thân.
 |
Từ chiều 29 cho tới trưa ngay 30-4-1975, súng đủ loại lớn nhỏ đã bắt đầu
nổ vang khắp Sài Gòn. Kinh khiếp hơn hết là các loại bích kích pháo
B40-41, hỏa tiễn 122 ly, cứ bì bỏm liên tục, rót xuống phi trường Tân
Sơn Nhất và các vùng đông dân lân cận. Nhưng cọng sản Bắc Việt đã làm
một công chuyện dư thừa, vì từ giờ phút đó, hầu hết các loại máy bay của
Sư Đoàn 5 Không quân, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và cả Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH
bên trong trại Võ Tánh, cũng đã di tản chiến thuật gần hết theo Mỹ. Lúc
đó, một số đang trên đường bay tới Thái Lan hay ra biển Đông. Số khác
chậm chơn thì cũng hoặc đang trong khuông viên Dao hay Toà Đại Sứ Mỹ và
nơi bến tàu dọc hai bờ sông Sài Gòn. |
Rốt cục chỉ có mặt nhựa ở phi đạo bị đan làm xoáy tung mà thôi. Nơi nơi
bôn hướng, cây cối, dây điện, gạch vôi và thân xác của những người lính
quèn lúc đó, vẫn còn ở lại để phòng thủ cái phi trường trống không, chập
choạng, ngả nghiêng thảm thê theo làn đạn địch. Ánh lửa hồng từ các đám
cháy, quyện với mùi khói khét và sơn vôi gạch vụn, theo gió bốc mùi vào
các ô cửa kính bị vỡ vì mãnh đạn bay lạc. Trong Viện Quốc Gia Nghĩa Tử,
nằm cạnh khu nghĩa trang Thánh Tây và phi trường, trên đường Võ Tánh, là
nơi tạm trú của mấy trăm gia đình di tản thuộc các Ty Cựu Chiến Binh từ
Miền Trung chạy vào. Mọi người ai cũng đang co rúm giữa bốn bức tường
mỏng manh loang lổ đan, nằm ngồi trên nền xi măng hay các bàn ghế học
trò lạnh lẽo, đói khát. Lũ con nít thiếu nước, thiếu sữa nên la khóc inh
ỏi.
Trong lúc đó trên đường Võ Tánh từ cổng chính của Bộ Tổng Tham Mưu gần
ngã ba Trương Tấn Bửu chạy tới ngã ba Bảy Hiền, xa nhìn ngút mắt, có các
đám cháy lớn và nhiều quân xa chở lính cũng như thiết giáp đang dồn dập
di chuyển. Khói lửa, điêu linh và chết chóc, đã được đám khoa bảng trí
thức vô dụng, ăn chén đá bát của miền Nam, qua cái rổ tự do dân chủ, hòa
hợp dân tộc, để rước cọng sản đệ tam quốc tế Hà Nội, mang từ Liên Xô và
Trung Cộng, vào tận đất Sài Gòn thơ mộng hiền hòa.
‘ Biển dâu dời đổi trải bao nhiêu ?
ngoảnh lại càng đau ruột chín chiều
..Hàm Tử, Chương Dương còn đó đó
non sông luống để bụi trần đeo..’
(thơ vua Thành Thái, Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn dịch).
Trong nổi câm nín của những ngày Việt Nam sắp mất nước, đất trời như
cũng cảm thông chia sớt với thân phận của một dân tộc nhược tiểu, bị
chính đồng bào mình, qua nhân danh lãnh tụ, đem bán đứng cho các thế lực
ngoại nhân, trong có đế quốc Trung Cộng, là một kẻ thù ngàn đời mãn kiếp
của nước Việt. Bởi vậy bốn bề quang cảnh mông mênh sầu thảm, qua cơn mưa
hè đầu mùa sụt sùi lệ mắt. Trong góc phòng, có chiếc máy thu thanh của
ai đó mở suốt từ đêm qua, nhưng âm thanh tuyệt nhiên vắng ngắt , lâu lâu
phát ra những tiếng gió sè sè lãng xẹt.
Giữa giờ thứ 25 chết chóc đang chực chờ, bổng thấy thèm những giọng ca
thương lính thuở nào, của những nam nữ ca sĩ phong lưu dỏm dáng, trắng
trẻo no tròn, với bộ đồ trận rằn ri, lúc nào cũng còn nguyên nếp gắp và
mùi thơm vải. Tình nhất là trên túi aó có lúc lắc chùm huy chương đủ
loại, cũng như các phù hiệu của những binh chủng dữ dằn như Nhảy Dù,
TQLC, BĐQ, Lôi Hổ..Cũng thấy nhớ tới những bài diễn văn bốc lửa, đượm
tình mến nước yêu dân của các đấng nguyên thủ, chính khách, lãnh tụ,
cha-thầy, kể cả các trí thức khoa bảng của Sài Gòn. Rồi nhưng cuộc biểu
tình chống chính phủ, chống tham nhũng, chống đàn áp tôn giáo, báo chí
đến nỗi ký giả phải đi ăn mày để có được tự do ngôn luận như các đồng
nghiệp đang sống ở Hà Nội, trong thiên đàng xã hôi chủ nghĩa, cái gì
cũng có.
Nhưng giờ này họ ở đâu ?, vì hôm qua còn thấy chường mặt đủ trên đài
truyền hình hay báo chí, hùng hổ phun bọt mép, khua cả tay chân quả đấm
đòi này nọ, để có thực quyền đối mặt với mấy trăm ngàn bộ đội miền Bắc,
đang lăm lăm súng đạn, mả tấu, để phanh thây xé xác đồng bào. Họ nói có
quyền mới có hòa hợp hoà giải,mang lại hòa bình cho đất nước và trên hết
người Việt không cần phải bỏ nước ra đi, để phải chết vì thèm mấm tôm cà
pháo nơi xứ người.
Tất cả gần như chạy hết rồi, bỏ lại đồng bào thân yêu chờ tận tuyệt,
lính tráng đồng đội đang còn tử chiến với giặc khắp chiến trường, các
thương bệnh binh đang rên la trong quân y viện và mảnh đất Sài Gòn ba
trăm năm, trong cơn hấp hối :
‘..em đâu biết nỗi thương sầu đau hận
của quân Nam khi rã ngũ tan hàng
vạn người chết, triệu kẻ sống lầm than
nuốt máu lệ, đón đòn thù rên xiết
nên đời anh, đời em còn chi nửa
kiếp lưu vong tơi tả lắm trời ơi ..’
1- Sài Gòn, những phút giờ hấp hối :
Hai mươi năm chinh chiến, bao giờ cũng vậy, tới lúc cuối cùng chờ chết,
vẫn là người lính trận và đồng bào nghèo, không có phương tiện để vượt
thoát khỏi cảnh bom đạn. Lính chết thật oan khiên vì chiến đấu trong đơn
độc, không có đồng minh cũng như đồng đội yểm trợ, vì vào giờ thứ 25,
đâu có ai ngu như người lính VNCH, ở lại chết để không có tiền tử tuất,
kể cả chiếc quan tài vùi thây đời lính. Biết nghĩ như vậy, những ai còn
sống sót tơí ngày hôm nay, phải nhỏ một giọt nước mắt, dù muộn màng để
cảm ơn họ. Lính chết oan khiên chẳng những ngoài chiến trường khi phải
đối mặt với kẻ thù hung ác, mà còn chết lãng nhách nơi hậu phương bởi
những cái lưỡi tắc kè xanh xanh đỏ đỏ, giờ này nhìn lại cũng đỏ đỏ xanh,
đâu có thấy đổi màu. Thảm nhất là trên đầu lính, gần hết là bọn lãnh đạo
tồi, thứ này giờ đã hết răng để mà ăn, nhưng lúc nào cũng muốn chường ra
giữa bia miệng, chọc cho thuộc hạ và con cháu khinh nhờn, khi cứ xưng
chức, đeo huy chương và trả lời những phỏng vấn cuội, như mới đây có đám
việt gian ở hải ngoại về Sài Gòn phỏng vấn lũ tướng đầu hàng VC, trong
đó có Nguyễn Hữu Hạnh và Triệu Quốc Manh, thuộc hàng tép riu, không
quân, không đơn vị trước khi Dương Văn Minh được làm tổng thống hai
ngày, để bắt QLVNCH buông súng rã ngủ.
Người lính Miền Nam bi hùng là thế đó, như vậy làm sao bảo họ phải chiến
thắng khối cọng sản đệ tam quốc tế, trong đó có Liên-Xô và Trung Cộng ?
Người lính đã ở lại tới giờ phút cuối cùng vào trưa ngày 30-4-1975, đã
là anh hùng thử hỏi có quân đội nào anh hùng hơn, kể cả quân Pháp, Đức,
Anh trong Thế chiến 2.
Sau khi Hoa Kỳ cùng Bắc Việt đồng thuận ngụy tạo cuộc ngưng bắn bịp vào
tháng 2-1973, chấm dứt sự hiện hữu của Mỹ tại chiến trường. Cũng từ đó,
QLVNCH bị đem con bỏ chợ, chiến đấu trong thiếu thốn, thiếu cấp chỉ huy
trên thượng tầng, thiếu đạn dược, thuốc men, xăng nhớt, các quân dụng
khiến cho nhiều phi cơ, chiến xa phải nằm ụ vì không cơ phận sửa chữa
hay thay thế. Tóm lại mọi sự đều do người bạn đồng minh Hoa Kỳ tạo ra,
như cắt quân viện, bội ước lời thề ‘ một đỗi một ‘ được chính siêu cường
ký nói hứa hẹn bằng giấy trắng mực đen.
Trong khi đó thì Bắc Việt, từ Hồ Chí Minh tới Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm
Văn Đồng..đã đem mãnh giang sơn gấm vóc của tiền nhân, cầm bán thế chấp
cho đệ tam cọng sản, nên được cả khối như Liên Xô-Trung Cộng, Đông Âu,
Bắc Hàn, Cu Ba, các đảng cọng sản Ý, Pháp, Mỹ và những thành phân ăn cơm
miền nam lại theo VC miền bắc, giúp đỡ hết lòng, từ cây kim hột gạo, cho
tới bom đạn, tăng, máy bay, tiền bạc và những cái lưỡi tắc kè đỏ đỏ xanh
xanh đảo lộn sự đời. Tệ nhất là lũ hề hữu danh vô thực, trong cái gọi là
Liên Hiệp Quốc, lúc nào cũng bưng bợ Hà Nội, như muốn đổ dầu vào biển
lửa thống hận trùng hằng tại Miền Nam.
Không chịu nổi cái cảnh ứa gan, hiếp người ngã ngựa, nhà bỉnh bút quân
sử thế giới lương thiện và nổi tiếng là Louis A Fanning, đã phải viết
lời chửi Mỹ : ‘ Sau hiệp định Paris 1973, hơn 300.000 bộ đội cọng sản
quốc tế, được người Mỹ bỗng dưng tự tác cho ở lại trên lãnh thổ của nước
khác. Đó là Miền Nam VN, một quốc gia độc lập, có chủ quyền, quốc hội và
không hề là thuộc địa hay các tiểu bang của Hoa Kỳ. Trong lúc đó, VNCH
là một đồng minh với Mỹ từ khuya , lại bị chính Mỹ phản bội, lường gạt,
cắt viện trợ và sỉ nhục mọi điều. Đúng là thái độ của bọn con buôn chính
trị, hèn chi người Mỹ đã bị thế giới tự do coi thường, vì đã bội tín với
nhiều đồng minh của mình.’
Viết về tình trạng đồng bào VN, sống giữa cảnh chết chóc của chiến tranh
mạt kiếp, đáng lẽ sẽ chẳng bao giờ xảy ra nếu không có đảng cọng sản Hà
Nội, khiến cho đất nước sau khi Nhật đầu hàng, thay vì sẽ có hòa bình
như nhiều nước trong vùng Á Châu, lúc đó cũng đang là thuộc địa của bọn
thực dân da trắng. Để diễn tả sự bất hạnh này, nhà báo người Tây Đức Une
Siemon Netto, đã viết trong tờ International Herald Tribune : ‘ giờ thì
mọi người đã biết rõ cái thực chất cách mạng cứu nước, mà cọng sản Hà
Nội luôn dùng làm chiêu bài, để có cớ gây nên một cuộc chiến vô luân,
nồi da xáo thịt. Tiếc thay trước tháng 5-1975, nhiều trí thức khoa bảng
và nhà báo Tây Phương, đã biết rõ cọng sản đệ tam quốc tế gây chiến
tranh chỉ vì ý thức hệ và trên hết chúng rất dã man tàn bạo. Nhưng vì họ
ích kỷ, hám danh và trên hết nhiều kẻ đã táng tận lương tâm, nên muối
mặt, bẻ cong ngòi bút, viết láo sai sự thật, để đầu độc môi người, nhất
là dân chúng Hoa Kỳ, đang có nhiều người thân tham dự cuộc chiến thần
thánh, bảo vệ tự do cho nhân loại tại Đông Dương, đang bị Đệ tam cọng
sản quốc tế tàn sát nhuộm đỏ.’. Hành động vô lương của bọn bồi bút, đã
gây nên nhiều nổi oan khiên tội nghiệp, khiến bao oan hồn lương dân vô
tội, đã bị bộ đội cọng sản miền bắc tàn sát dã mang trong tết Mậu Thân,
nhất là tại Huế. Rồi mùa hè đỏ lửa 1972 trên đại lộ kinh hoàng, từ Đông
Hà về Huế, trên quốc lộ 14 Dakto-KomTum, đường 13 An Lộc-Bến Cát và đoạn
đường số 1, từ Tam Quan-Hoài Nhơn-Phù Mỹ về Qui Nhơn, qua những Lai
Giang, sông Côn, sông Cả..Nhưng bi thảm nhất cũng vẫn là những ngày cuối
cùng di tản tại Vùng I, vùng II trên đường số 7, dân chúng lánh nạn gục
chết như ra vì đạn kích pháo của giặc, không cần biếy hay thương hại cho
mạng người lá rụng, dù những mạng sống đó vốn cùng bộ đội VC, chung cháu
Lạc Con Hồng. Tóm lại tất cả đều vô lý, đã khiến cho nhiều nhà báo ngoại
quốc sau này, phải kêu trời không ngớt, vì tự vấn lương tâm khi họ đả vô
tình hay cố ý, câm nín trước những thảm trạng của nam VN. Trong lúc đó
vụ Mỹ Lai (Quảng Ngãi), do chinh Hà Nội giật dây đạo diễn, đẩy dân lành
vô tội ra làm bia đỡ đạn cho lính Mỹ, thì được bao chi Tây phương làm
lớn chuyện, tuyên truyền không công cho Hà Nội, trong suốt cuộc chiến.
Sài Gòn đã bắt đầu xáo trộn từ tháng 3-1975, từ lúc miền Trung bị mất
qua quyết định sai lầm rút bỏ quân đoàn I và II của TT.Nguyễn Văn Thiệu,
Thủ Tứớng Trần Thiện Khiêm và Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu
trưởng QLVNCH lúc đó. Ngày 21-4-1975, Tổng Thiệu qua áp lực của Mỹ, muốn
thay ngựa theo ý của cọng sản Bắc Việt, để hòa hợp hòa giải, nên ông
phải tuyên bố từ chức tổng thống trong lúc đất nước nguy ngập, ngàn cân
treo chỉ mành và đã cùng Thủ tướng Khiêm, được Tòa Đại Sứ Mỹ, đưa ra
khỏi Sài Gòn, tới Đài Bắc trong đêm tối bằng máy bay quân sự. Việc bỏ
nước ra đi của TT. Thiệu, khác với trường hợp của Thủ Tứơng Khiêm hay
Đại Tứớng Viên, vì hai người này chẳng hề bị đe dọa hay bắt buộc. Trái
lại Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào giờ thứ 25 của VNCH trong tháng
4-1975, giống như cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 2-11-1963,
được quyết định bởi bàn tay của người Mỹ. Tổng Thống Diệm không cho
người Mỹ đem quân vào VN nên bị giết trong danh dự. TT Thiệu khôn ngoan
từ chức ra đi, nên được sống những ngày thừa nơi quê người, chịu bia
miệng nguyền rủa, vì ham sống sợ chết, dù rằng con kiến cũng muốn sống.
Đó là sự thật của lịch sử, của thân phận nhược tiều VN, mà các tài liệu
Mỹ đã hé mở cho mọi người cùng đọc, trong vài năm trước đây và còn được
lưu trữ phổ biến khắp mọi văn khố, kể cả VC. Ngoài ra, cũng theo sử
liệu, chính Tổng Thống Trần Văn Hương, muốn người Mỹ đem Tổng Thống
Thiệu ra khỏi nước, mà theo TT Hương, đó là kỳ đà cản mũi, nên ông ta
không thể trị nước hay chống Cộng được.
Thương nhất là Trần văn Hương lúc đó, đã gần đất xa trời, thêm mắt mũi
kém, lại bị Mỹ bắt làm Tổng Thống VNCH, theo điều kiện của Bắc Việt.
Nguyên thủ như vậy, nên miền Nam bị mất là cái chắc, dù sớm hay muộn
cũng thế thôi.
Sau đó lại màn thay ngựa cuối cùng, để Dương Văn Minh danh chánh ngôn
thuận, kết thúc cuộc chiến từ đầu cũng do VC sắp đặt và cuối cũng cũng
do VC quyết định, qua miệng kẻ cầm quyền của miền Nam, dù chỉ có hai
ngày ngắn ngủi.
Chiều 28-4-1975, đại tướng Dương văn Minh đăng quan Tổng Thống VNCH.Đây
là lần thú hai ông làm xếp chúa cả miền nam, mà lần nào cũng thật ngắn
ngủi không có danh dự, vì được các thế lực chính trị con buôn, bồng đặt
lên chiếc ngai vàng ba chân nên không làm cho ai kính phục được. Chiều
hôm đó, trời Sài Gòn như phủ kín màn mây tang tóc, báo trước hy vọng của
dân quèn chỉ muốn an phận ngày qua ngày với chén cơm rau, đã sắp tan
biến thành mây khói bom đạn, đang ập sát phận hèn. Trong lúc đo, nơi hậu
trường, qua đài phát thanh và truyền hình, tân tổng thống Minh tuyên bố
là sẽ đánh đuổi VC về Bắc để chiếm lại lãnh thổ đã mất, khi Mỹ rút hết
về nước trong 24 giờ ấn định. Tổng thống cho biết, từ nay QLVNCH không
cần chiến đấu nửa, vì bên kia đã hứa sẽ hòa hợp hòa giải hòa bình. Nhưng
cũng lúc đó, khi bài diễn văn chưa chấm dứt, thì những trái đạn từ các
máy bay A37 của tên phi công nằm vùng Nguyễn Thành Trung, từ trời rớt
xuống, nổ tung tàn phá mọi vật, như chứng thật lời nói ba hoa của kẻ hám
danh mà thực chất rất ấu trĩ về chính trị và sự hiểu biết.
Lừng khừng lại ngộ lẳm cẳm, bất tài vô tướng như Dương văn Minh, mà từ
đầu tới cuối mùa chinh chiến, lúc nào cũng muốn nhẩy xõm lên ghế vua
chúa hay là người hùng. Thảm thê ơi đất Việt, suốt mấy thế kỷ qua, chỉ
thấy toàn bọn sâu bọ đội lớp khoa bảng, trí thức, vua chúa, quan quyền,
quyết định sinh mệnh của cả một đất nước, dân tộc. Bởi vật đất nước
không bị suy thoái hay nô lệ ngoại bang, mới là chuyện lạ trên đời. Tình
trạng nước ta, thật đúng với nhận xét của Thủ tướng Anh Wintons
Churchill :’chỉ vì bọn cầm quyền, lãnh tụ, muốn cầu an hưởng lợi, nên đã
chọn sự lừng khừng, cuối cùng gây đại họa cho đất nước.’
VNCH đang lúc lâm nguy vì thù trong giặc ngoài. Cả triệu quân, công, cán
cảnh..lúc đó đang xã thân, dùng xác người thay súng đạn Mỹ, làm công sự
cản xe tăng hứng đạn pháo của cọng sản khắp mọi nẻo đường dẫn vào thủ
đô, thì cũng lúc đó nhưng sâu bọ nơi hậu trường chính trị, hăng say toắc
mồm, áo thụng vái lạy ông, bày ra những trò hề tác tệ, để tự phong quan
gắn chức, làm nản chí những người lính đang xả thân nơi chiến trường,
bắt QLVNCH phải tan hàng rã ngũ trong tức tủi oan khiên và cuối cùng làm
cho cả nước phải sống đọa đày thương đau, trong cùm gông xã nghĩa từ ấy
cho tới bây giờ, vẫn không hề thay đổi, vẫn không có tự do dù chút tự do
để nói lời chân thật trong đáy hồn mình.
Nhưng dù gặp khó khăn nguy hiểm, các lộ quân còn lại của VNCH vẫn cản
nổi quân xâm lăng Bắc Việt, trên khắp các tuyến đường dẫn vào Sài Gòn.
Chính hành động phi thường này, nên dù VNCH không còn nửa, vẫn được thế
giới ngợi khen và kính phục, như Peter Kohn đã viết trên tờ the Wall
Street Journal :’Quân đội VNCH là một quân đội can đảm và chiến đấu lão
luyện. Quân đội ấy đã chiến đấu giỏi trên nhiều địa danh, mà người Mỹ
hoặc thế giới biết hay chưa biết tới. Quân đội ấy đã hào hùng ngạo nghễ
với địch , qua hàng ngàn chiến trận, tiền đồn hẻo lánh hiu hắt. Quân đội
ấy không được trang bị như quân Mỹ hay bộ đội cọng sản Hà Nội. Thế nhưng
từ khi Hoa Kỳ rút quân về nước hay lúc đầu quân Mỹ chưa vào VN, vẫn hiên
ngang chiến đấu trong suốt 20 năm khòi lửa, gần như bảo toàn trọn lãnh
thổ của cha ông, từ phía bên này vỹ tuyến 17 cho tới Cà Mâu, đến khi bị
Việt gian đâm sau lưng, VC bắn trước mặt, mới đành để mất non sông vào
tay đệ tam cọng sản quốc tế.
Cũng vì phải chiến đấu khắp các mặt trận, nên đã có hằng tram ngàn người
lính phải chết, hằng triệu thương phế binh, cô nhi quả phụ. Tới giờ phút
cuối cùng, đã biết nước sắp mất, chết chỉ thêm uổng mạng nhưng họ vẫn
hiên ngang chiến đấu tại Khánh Dương, Phan Rang, Phan Thiết, Xuân Lộc,
Long An, Tây Ninh, Củ Chi , Biên Hòa và Sài Gòn. Tất cả đều là những
chiến tích để đời và lưu danh thiên cổ trong dòng sử Việt
Cuối cùng trong giờ thứ 25, QLVNCH đã xử sự một cách mã thượng anh hùng.
Thay vì dùng vũ lực bắt trọn Toà Đại Sứ và Cơ Quan Dao làm con tin, như
Iran đã từng làm, để gây áp lực, bắt Hoa Kỳ phải giữ lời hứa, dùng B52
đuổi bộ đội cọng sản rúr về phía bên kia vỹ tuyến 17 như Hiệp định
Geneve năm 1954. Nhưng họ vẫn không làm như vậy, vẫn tôn trọng kỷ luật
quân đội, biểu lộ nét hào hùng văn hiến ngàn đời của một dân tộc có văn
minh, văn hóa VN, khi cố gắng phòng thủ và tiếp tục chiến đấu khắp nơi,
giúp cho Mỹ và những đồng đội, cấp chỉ huy hèn nhát, bỏ chạy khỏi nước
một cách an toàn, trước khi giặc Hồ vào Sài Gòn trưa 30-4-1975.
Họ đáng được ca tụng và kính phục ‘.
2- QLVNCH tử chiến trong giờ thứ 25 :
Sau khi được 400.000 quân Trung Cộng phòng thủ đất Bắc, cọng sản Hà Nội
xua toàn bộ quân đội xâm lăng miền Nam. Mai mỉa nhất là lúc mà Dương Văn
Minh cùng nội các mới, hy vọng được hòa hợp hòa giải với VC, để chúng
chia chức nhín cho một chút quyền trong cái chính phủ liên hiệp, nếu có
cũng chỉ là thứ bù nhìn, như MTGPMN được dựng lên, từ 12-1960 tới tháng
5-1975. Đây chính là thời điểm , mà Bắc Bộ Phủ gọi là giờ G, ngày N, để
tổng tấn công chiếm Sài Gòn. Đó là lúc nửa đêm 29-4-1975, thời gian Hà
Nội qui định cho tất cả các cánh quân, từ năm hướng tiến vào thủ đô. Đây
cũng là thời gian qui định cho bọn đặc công, biệt động nằm vùng, chui ra
khỏi các hang ổ để gây hỗn loạn trong thành phố, chỉ đường, bắt tay cho
bộ đội miền Bắc.
Tại Mặt Trận Miền Đông Nam Phần, từ sau ngày SĐ18BB và Lữ Đoàn 1 Dù, rút
lui an toàn về Bà Rịa, Quân Đoàn III đã tái phối trí lại các phòng tuyến
mới vào những ngày cuối tháng 4-1975.
Vì SD18BB của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo bị thiệt hại nặng nề sau 12 ngày
ác chiến với cọng sản Bắc Việt. Ngoài Trung Đoàn 48/18 của Trung Tá
Công, tương đối quân số còn nguyên vẹn, các Trung Đoàn 52/18 của Đại Tá
Ngô Kỳ Dũng, tại Mặt Trận Ngã Ba Dầu Giây-Túc Trưng, thiệt hại hơn 80%
quân số và Trung Đoàn 43/18 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, tử thủ trong thị xã
Xuân Lộc, thiệt hại trên 30% nhất là Tiểu Đoàn 2/43/18 của Thiếu Tá
Nguyễn Hữu Chế, là đơn vị cuối cùng rời Long Khánh. Do đó sau khi chỉnh
đốn lại đơn vi, SD18BB được giao trách nhiệm phòng thủ tuyến phía đông
Sài Gòn, từ kho đan thành Tuy Hạ chạy dài tới Tổng Kho Long Bình. Riêng
BCH Hành quân của SD18BB đặt tại căn cứ Hải Quân Cát Lái. Phòng tuyến
của SD 18BB tiếp giáp với vị trí phòng thủ của Lực lượng Nhảy Dù, Trường
Thiết Giáp và Bộ Binh Thủ Đức.
Tỉnh Phước Tuy và Đặc Khu Vũng Tàu, trong đó có quốc lộ 15 được Lữ Đoàn
1 Nhảy Dù, SD3BB phối họp với các lực lượng DPQ + NQ của Phước Tuy và
Bình Thuận di tản từ miền trung tới. Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh
SDTQLC kiêm Tổng trấn đặc khu Vũng Tàu. Riêng SD3BB từ vùng 1CT di tản
vào, quân số kể luôn SD1BB cộng được hơn 1000 người, lập thành 2 tiểu
đoàn thuộc Trung Đoàn 2/3 và 56/3 vẫn do Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh làm
tư lệnh. SD3BB được tăng cường thêm Chi đoàn 2/15 Thiết Kỵ và Lữ Đoàn 1
Dù, bảo vệ QL15, thị xã Bà Rịa-Vũng Tàu.
Tỉnh Biên Hòa và phi trường do Lực lượng III xung kích của Chuẩn Tướng
Trần Quang Khôi, được tăng phái thêm 2 Lữ đoàn 147 và 258 TQLC phòng
thủ. Từ ngày 28-4-1975, để bảo vệ thành phố Biên Hòa, Liên Đoàn 81 Biệt
Kích Dù bố trí trong phi trường giữ mặt bắc Bộ tư Lệnh QDIII. Một
TD/TQLC thuộc Lữ Đoàn 2 bảo vệ BTL.QDIII, các thành phần còn lại của Lữ
Đoàn, phòng thủ mặt nam BTL. Quân Đoàn. Lữ Đoàn Nhảy Dù giữ hai Cầu Mới
và Sắt cùng các nút chận vào thị xã. Riêng Lực Lượng III Xung kích gồm
Chiến Đoàn 315phòng thủ từ Ngã ba Hố Nai đến Ngã tư Lò Than. Chiến đoàn
322 giữ từ Ngã tư Lò Than tới cổng phi trường Biên Hòa và Chiến đoàn 318
từ phi trường tới Cầu Mới.
Về phía bắc Sài Gòn có SD25BB của Chuẩn tướng Lý Tòng Bá được tăng phái
thêm hai Liên Đoàn 8 và 9 Biệt Động Quân, trách nhiệm Tây Ninh và Củ
Chi-Hậu Nghĩa. Mặt trận phiá bắc tỉnh Bình Dương là trách nhiệm của
SD5BB của Chuẩn Tướng Lê NguyênVỹ, với Trung Đoàn 8/5 của Đại Tá Nguyễn
Bá Mạnh Hùng tăng phái cho Lực Lượng III Xung kích của Tướng Khôi ở Hưng
Lộc, vừa được trả về. Phòng tuyến phía nam Sài Gòn là Long An, có SD22BB
ở Bình Định di tản tới, phối hợp với Lực Lượng 99 Tuần Thám Ngăn Chận
của Hải Quân và DPQ+NQ.Long An, từ lâu nổi tiếng là kiêu dũng thiện
chiến, không kém gì quân chủ lực. Như vậy trừ ba SD7,9 và 21BB của QDIV
phải bảo vệ lãnh thổ, phía VNCH chỉ còn tất cả chừng sáu Sư Đoàn gồm
SD5,18,22,25 bô binh + Hai Lữ Đoàn 1 và 4 Nhảy Dù + Sư đoàn TQLC + Lực
Lượng III Xung Kích +Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù +4 LiênĐoàn BDQ +
DPQ và NQ + 625 chiến xa đủ loại và 400 pháo, tất cả chừng 240.000
người, để bảo vệ Sài Gòn. Trong khi đó VC tung vào 5 lộ quân với quân số
trên 280.000, gồm 15 Sư đoàn BB + 5 Lữ đoàn biệt lập + 4 Lữ đoàn thiết
giáp + 6 Trung Đoàn Đặc công.
Từ chiều ngày 29-4-1975, hai Bộ Tư Lệnh Không quân và Hải quân VNCH đã
di tản chiến thuật, kể cả Tướng Nguyễn Văn Toàn (Tư lệnh QDIII) và Đại
Tướng Cao Văn Viên, Tổng TMT từ chức. Do đó, tổng thống mới nhậm chức là
Dương Văn Minh, cử Tướng Vĩnh Lộc lên thế chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Đến
tối cùng ngày, Tướng Lộc ra lệnh cho SD18BB về bố trí từ Nghĩa Trang
Quân Đội Biên Hoà, tới Thủ Đức.
Đầu tháng 4-1975, trường Bộ Binh lúc đó từ Thủ Đức đã dời về Long
Thành-Biên Hòa, đông nghẹt sinh viên các khóa, trong đó có hai quân
trường từ Đà Lạt di chuyển về như Trường Võ Bị và Chiến Tranh Chính Trị.
Lúc 8 giờ tối ngày 27-4-1975, trường Bộ Binh lại có lệnh di chuyển trở
về trường củ ở Thủ Đức. Tới 8 giờ sáng ngày 30-4-1975, có bốn T54 của
cọng sản Bắc Việt từ Xa Lộ Biên Hòa, tấn công trường, bị Pháo Binh 105
bán trực xạ cháy 3 chiếc tại chỗ. Nhưng chiếc còn lại đã nhập dược vào
trung tâm, sau khi thoát được các tầm đạn M72 của sinh viên, bắn tử
thượng Trung Tá Ông văn Tuyên, Trung sĩ I Nhân và 5 sinh viên, cùng 10
người bị thương, trong số này có Trung Tá Vương Bá Thuần. Cuối cùng
chiếc tăng trên bò ra khỏi trường và bi M72 bắn đứt xích, nằm tại Niệm
Phật Đường cạnh Chợ Nhỏ, nhưng vẫn tác xạ dữ dội vào trường. Cuối cùng
có hai sinh viên Thủ Đức, chưa được gắn Alpha, tình nguyện mang lựu đạn
lân tinh loại xuyên phá, mới tiêu diệt được chiến T54 này.
Cũng tại Long Bình vào sáng ngày 29-4-1975, Tiểu đoàn 43 thuộc Liên Đoàn
4 BDQ, do Thiếu Tá Xẻn làm TDT, được lệnh của Biệt Khu Thủ Đô,tăng phái
phòng thủ Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Từ 2 giờ 30 chiều cùng ngày,
VC đã về tới Trung Chánh-Hóc Môn, sau khi chiếm được Căn cứ Đồng Dù của
SD25BB, căn cứ Pháo binh Lòng Tảo và đánh tan Trung Đoàn 46/25BB trên QL
số 1 từ Củ Chi về Tân phú Trung. Lúc đó Trường Quân Vận đối diện với
TTHL Quang Trung cũng đã mất, nên Chiến xa của VC bắt đầu tấn công trung
tâm, nhưng không ngờ trong đó không phải chỉ có tân binh quân dịch, mà
còn sự hiện diện của một tiểu đoàn BDQ vơí hơn 500 tay súng, suốt cuộc
chiến, đã cùng với các TD41,42,44 là những cọp ba đầu rằn tung hoành như
chỗ không người trong mật khu sình lầy của Vùng 4 Chiến thuật. Tối
29-4-1975, qua hệ thống truyền tin của TD43BDQ, mới biệt BTL Biệt Khu
Thủ Đô đã bỏ chạy, chỉ còn các sĩ quan cấp uý ở lại nhưng BCH.Biệt Động
Quân và Tướng Đổ Kế Giai vẫn còn nguyên vẹn tại Trại Tô Hiến Thành. Bên
trong chiến hào của TTHL Quang Trung, cũng như suốt đoạn đường từ ngã ba
Trung Chánh- Hóc Môn, về tới Ngã ba Bảy Hiền, các đơn vị kiệt hiệt nhất
của QLVNCH như BDQ, Biệt Cách Dù và Nhảy Dù đang đợi chờ một trận đánh
cuối cùng dũng liệt như SD18BB, LD1ND,TD82BDQ và DPQ Long Khánh, tại
Xuân Lộc, thì trưa 30-4-1975 bị Dương Văn Minh ban lệnh buông súng rã
ngũ, một cách tức tủi đoạn trường.
5 giờ chiều ngày 29-4-1975, các mặt trận, lính vẫn chiến đấu không ngừng
nghĩ. Tại Biên Hòa, TQLC, Biệt Cách Dù và các Chiến Đoàn thuộc Lực Lượng
III Xung Kích, đã ngăn chống VC tại các phòng tuyến một cách đẫm máu
kinh hoàng.
Tại BCH.Thiết Giáp trong trại Phù Đổng, cũng là nơi đặt tạm BTL.QDIII từ
Biên Hòa di tản về, cũng như Trung Tâm Hành Quân /BTTM/QLVNCH gần như
không còn đại bàng để nhận tin chiến trường và quyết định lệnh lạc. Cho
tới 22 giờ 30 đêm 29-4-1975, Phế tướng Nguyễn Hữu Có, người vào năm 1965
bị Nguyễn Cao Kỳ lột chức và bắt ở lại Hồng Kông không cho về nước, cách
đó vài giờ, vừa được TT.Dương Văn Minh gắn cho cái lon Trung Tướng, lên
máy ra lệnh cho SD18BB của Thiếu Tướng Đảo và LL3XK của Tướng Khôi, cố
gắng giữ yên phòng tuyến trong đêm 29-4-1975, để rạng sáng ngày
30-4-1975 sẽ có hòa bình vì cọng sản Bắc Việt đã chịu hòa họp hoà giải
hòa chung máu lệ với TT. Minh và lực lượng thứ ba đối lập.
Nhưng 23 giờ 45 đêm 29-4-1975, Bắc Việt đã không hòa hợp mà lại tấn công
dữ dội bằng bộ binh và chiến xa khắp các phòng tuyến tại Biên Hòa. Hai
bên gần như cận chiến với khoảng cách chừng 10-15m, nhất là tại phòng
tuyến do quân Dù, TQLC và Chiến Đoàn 315 của Trung Tá Đổ Đức Thảo có
chiếnxa M48.
2 giờ sáng ngày 30-4-1975, phòng tuyến SD18BB của Tướng Đảo tại Long
Bình bị VC tràn ngập, quân ta từ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa phải rút
về Thủ Đức.
Riêng Chiến Đoàn 3, thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù của Thiếu Tá
Phạm Châu Tài, quân số hơn 1000 người, từ Biên Hòa được điều động về bảo
vệ Bộ Tổng Tham Mưu từ 5 giờ 30 ngày 26-4-1975. Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn
đóng tại Building số 1, đối diện vối Trại Võ Tánh. Các Biệt đội 811 của
Đại Uý Lâm đóng trong Lục Quân Công Xưởng. Biệt đội 812 của Đại Uý Ánh
đóng ở giữa cổng sau TTM và Tổng Y Viện Cộng Hòa. Biệt đội 813 ủa Đại Uý
Thạch rải quân từ Ngã Tư Bảy Hiền tới Trại Phi Long của Nhảy Dù và Biệt
Đội 815 của Đại Uý Lợi là lực lượng trừ bị của Chiến Đoàn, đóng trước
cổng Bộ TTM.
Từ ngày 28-4-1975, các đại bàng ở Bộ TTM, Bộ Tư Lệnh QD3, Quân Khu Thủ
Đô.. từ Đại Tướng trở xuống đã di tản chiến thuật, nên coi như không còn
ai ra lệnh cho thuộc cấp dưới quyền. Về việc tên phi công nội tuyến
Nguyễn Thành Trung, dẫn đoàn máy bay của KQ.VNCH bỏ lại ở Phù Cát, Phan
Rang vào oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất, không bị Chiến Đoàn 3 Biệt
Cách Dù bắn hạ, vì đã tưởng là phe ta làm đảo chánh.
Chiều ngày 29-4-1975, tướng Vĩnh Lộc được TT.Minh cử làm Tổng Tham mưu
trưởng thay Cao Văn Viên, còn Nguyễn Hữu Có thỉ gắn ba sao, xưng là Tổng
Tham Mưu Phó. Ngoài ra còn có VC nằm vùng Nguyễn Hữu Hạnh, cũng được
Dương Văn Minh gắn sao tướng, dù Có và Hạnh đã bị giải ngũ từ lâu. Mới
đây VC lại cho các tên hề Có, Hạnh và Triệu Quốc Mạnh làm cuộc phỏng vấn
cuội tại Sài Gòn, do bọn Việt gian hải ngoại từ Canada về thực hiện, rồi
đem phát trên đài để lừa bịp người Việt trong và ngoài nước, một cách
trơ trẽn vì câu chuyện lãng xẹt của đám sâu bọ, từng làm xấu hổ danh dự
và thể thống của người lính VNCH năm nào.
Từ 6 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, VC pháo kích bừa bãi hỏa tiễn 122 ly
vào khu dân cư đông đúc, nhiều trái rớt xuống đường Võ Di Nguy, làm
nhiều đồng bào thương vong. Nhiều trái khác rơi vào vòng thành Bộ TTM.
Trên các đường phố dẫn tới Đại Lộ Chí Lăng, chiến xa Bắc Việt đã xuất
hiện. Chiến xa VC bắn vào Bệnh Viện Vì Dân tại Ngã Tư Bảy Hiền nhưng bị
Biệt Cách Dù, dùng súng đại bác M90 ly không giựt, chỉ trong vòng 15
phút, bắn cháy 6 chiếc T54, PT76 cùng với một khẩu pháo phòng không có
bánh xe kéo, với nhiều đặc công bị chết, nằm rải rác từ Bảy Hiền tới Bộ
TTM.
9 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, Dương Văn Minh ra lệnh cho Chiến Đoàn 3
Biệt Cách Dù, lúc đó cũng đang tử chiến với VC, phải ngưng đánh nhau, để
chờ đầu hàng. Tuy nhiên nhiều toán không tuân lệnh, vẫn tiếp tục bắn vào
các đoàn xe của VC, sau đó tự tử tập thể bằng lựu đạn vào giờ thứ 25.
Riêng 2 Chiến Đoàn Biệt Cách Dù do Đại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy, sáng
ngày 30-4-1975, từ Suối Máu rút về Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa, khi
nghe lệnh Dương Văn Minh bắt đầu hàng, nên cũng rã ngũ tại đây.
Khôi hài nhất là lúc mà người lính đang nối tiếp nhau ngã gục khắp các
chiến trường, để bảo vệ cho thủ đô Sài Gòn và cuộc di tản bằng máy bay
trực thăng của Mỹ, trên các mái nhà tại Cơ quan Dao và Tòa Đại Sứ, thì
gần hết tướng lãnh bỏ chạy trước. Còn Chính phủ Dương Văn Minh vừa mới
nhậm chức, thì đã sai Nguyễn Văn Huyền vào Trại David, để thương thuyết
với giặc xin đầu hàng, nhưng bị Võ Đông Giang làm nhục và bắt giam luôn
bọn Việt Gian Chân Tín, Châu Tâm Luân và Trần Ngọc Liễng, từ chiều ngày
29-4-1975, khi vào làm sứ giả hòa bình.
Trong cuộc di tản ra khỏi nước, ngoài người Mỹ còn có đủ mọi thành phần
lúc đó, từ quan tướng, trí thức, thầy cha, nhà báo, ca sĩ, mẹ mìn, đĩ
điếm. Tất cả đạp lên đầu lẫn nhau để kiếm một chỗ chạy ra khỏi nước trốn
cọng sản. Lúc đó không còn ai thèm nghỉ tới tư cách, thể diện, trinh
tiết hay gì gì nửa. Kỳ cục nhất là những chuyên viên đối lâp, phản
chiến, phá hoại và nói xấu chính phủ VNCH, giờ phút cuối lại là những
thành phần hăng hái chạy trốn nhiều và trước hết. Ba mươi năm sau mới
chợt hiểu, thì ra họ chỉ có thể chũi người quốc gia mà thôi. Với cọng
sản, dù chỉ mới léng phéng mồm miệng, không bị roi đòn thoi đấm, hay ăn
mã tấu, vào tù, bị cột đá neo sông, mới là chuyện lạ. Bởi vậy phải nhanh
chân chạy trước ra ngoại quốc, để được tiếp tục đối lập với người Việt
tị nạn, lần nữa làm tôi mọi cho cọng sản, dù rằng đã vì chúng mà phải
một lần chuốc lấy sự nhục nhã năm nào.
Sài Gòn náo loạn khắp nơi, dân chúng ùn ùn kéo tới các ngân hàng rút
tiền ký thác. Các Tòa Đại Sứ lần lượt đóng cửa, cũng như nhiều Hãng Máy
bay ngưng hoạt động vì sợ họa lây. Hòn Ngọc Viễn Đông như đã chết vào
những ngày gần cuối tháng 4-1975
Thế rồi 9 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, trong lúc mọi người đang mê tỉnh
trong cơn hấp hối của đất nước, thì Dương Văn Minh vì quá nghe lời xúi
dại của bọn thân Cộng như Lý Quý Chung, Nguyễn Hữu Thái, Nguyễn Hữu
Hạnh, nên lợi dụng chức vụ tổng thống tổng tư lệnh quân đội, ép QLVNCH
buông súng rã ngủ, trong khi tất cả còn đang tử chiến với giặc ngoài
biên đình.
Hỡi ơi VN chỉ vì một tên hám danh lừng khừng, mà cả một dân tộc chịu
cảnh lầm than nô lệ từ ba chục năm qua và không biết tới bao giờ mới
thoát khỏi xích xiềng tù ngục. Tất cả đều là ý trời, là số mệnh, là hậu
quả tất yếu của một hậu phương miền Nam vô tình bạc nghĩa, chỉ biết
hưởng thụ cá nhân, nên chẳng bao giờ chịu chia xẻ nỗi đau cùng cực của
người lính, đã vì họ mà vong thân hay tàn phế nữa đời.
Nhưng rồi giặc chiếm được nước, tất cả dân lính cùng chịu cảnh tan tác
phân ly không chừa hay bỏ sót một thành phần nào, kể cả những người một
thời theo giặc. Lính bỏ súng vào tù, dân không còn được lính bảo vệ, nên
bị đe dọa mạng sống và mất hết tự do kể cả quyền sống làm người dân
thường bên vệ đường.
Trưa 30-4-1975, bộ đội Bắc Việt hồ hởi tiến vào Sài Gòn. Người người
cùng cười dù đang thúi ruột, vì lần đầu tiên được chạm mặt với lính cụ
Hồ, lù khù, ngô nghê. Nhiều chàng nàng cục mịch trong bộ đồ trận, với
nón cối, dép râu, y chang những con dã nhân trong sở thú. Vậy mà suốt ba
mưới năm qua, tháng tư nào cũng khoe là mùa xuân đại thắng, hay huênh
hoang nhận đại là quân đội nhân dân anh hùng.
Phút cuối vẫn còn một số đơn vị Dù, TQLC, BDQ, Biệt Cách Dù..không thèm
nghe lệnh của Dương Văn Minh. Họ chận đánh cọng sản Bắc Việt, trên các
đường phố Hồng Thập Tự, Thị Nghè. Tại Đại lộ Thống Nhất, lính Dù và BDQ
bắn M72 vào xe tâng VC khi chúng tiến vào chiếm Dinh Độc Lập.
Đúng 12 giờ 30 trưa ngày 30-4-1975, lá cờ vàng ba sọc đỏ của quốc dân VN
treo trên nóc Dinh Tổng Thống VNCH bị giặc tước bỏ. Dương văn Minh và
toàn bộ nội các có mặt tại dinh, bị bộ đội miền bắc, nhốt giữ tại chỗ,
dù từ lớn tới nhỏ, đã sùi bọt mép nịnh bợ ca tụng chúng. Nhục nhã muôn
đời là cả đám bị thu hình trước ống kính của hằng trăm nhà báo ngoại
quốc. Cũng vào giờ phút mà Dương văn Minh bị còng tay gục đầu, thì tại
Bộ Quốc Phòng, Trung Tá Nguyễn văn Cung, thuộc SD18BB khi nghe tin đầu
hàng đã tự sát. Nhiều lính Dù cũng dùng súng M16 kết liễu đời trai trước
Tổng Cục Chiến Tranh Chính trị. Trong trại Hoàng Hoa Thám, một toán lính
Nhảy Dù, nắm tay làm thành vòng tròn, rồi mở chốt lựu đạn để cùng chết
tập thể. Một Đại Úy Cảnh Sát tự bắn vào đầu chết trước Quốc Hội. Trong
khi đó các tướng lãnh Phạm văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Lê
nguyên Vỷ, Phạm Văn Hai..cũng quyên sinh khi thành mất. Đó là những hình
ảnh tuyệt vời, ngàn đời khắc sâu trong tâm khảm của người Việt và những
trang sử bất diệt của dân tộc.
Sài Gòn đã chết từ đó, dân chúng thành đô dửng dưng trước chủ mới. Trong
lúc đó, có nhiều con khỉ trong sở thú, vừa được sổ chuồng, cổ quàng khăn
đỏ, tay phất cờ máu, trang bị súng đạn lượm được của lính bõ bên vệ
đường, chễm chệ trên các xe quân đội, tung tăng múa rối khắp đường phố,
cổ võ, làm oai, hoan hô, đã đảo một cách lố bịch.
Trưa đó, 125 nhà báo ngoại quốc còn nán lại, đổ xô tới chiêm ngưỡng
những anh hùng cách mạng, mà từ năm 1960-1975, họ đã không ngớt xưng
tụng và tô son đánh phấn khắp thế giới không tiếc lời. Nhưng sự thật đã
làm té ngửa các trái tim thú vật, khi biết được tất cả chì là sự tuyên
truyền lừa bịp của miệng lưỡi cọng sản, mục đích để cho thế giới có
thành kiến không tốt và ghét bỏ VNCH. Có như vậy họ mới bỉ ổi ca tụng
một chiều cuộc xâm lăng miền Nam của Bắc Việt, mà không cần phải tìm
hiểu sự thật.
Từ đó, thế giới mới bắt đầu tỉnh ngộ và chịu viết về một sự thật mà họ
đã cố tình dấu diếm : ‘ Không có ai là người miền nam, tất cả đều là bộ
đội miền bắc, trong tập đoàn đệ tam cọng sản quốc tế, do Liên Xô-Trung
Cộng cầm đầu ‘. Riêng Norman Podhreta, khi về nước đã viết trên tờ Los
Angeles times :’ Nam VN bị mất, không phải vì cấu xé nội bộ, cũng không
do nhiệt thành quốc gia hay vì chính phủ không tranh thủ được lòng dân.
Sự thật tất cả do sự xâm lăng của Bắc Việt, qua hậu thuận của khối cọng
sản đệ tam quốc tế, trong đó có đảng cọng sản Hoa Kỳ .’ Còn nữ ký giả Ý
từng ca tụng Hồ Chí Minh, tên Tiziano Tersani thì viết ‘ Binh sĩ tấn
công vào Sài Gòn đều là bộ đội Bắc Việt. Sự phân biệt rất dễ dàng nhờ
hình vóc và tiếng nói, người miền bắc hoàn toàn khác lạ với VC miền nam.
‘. Một nữ ký giả Pháp, Brigitte Friang thì mai mỉa hơn ‘ Trưa 30-4-1975,
bộ đội Bắc Việt vào Sai Gòn. Đây là một thành phố chết, chỉ có 125 nhà
báo ngoại quốc và hơn một chục đứa con nít nam nữ, trương cờ máu đế chào
đón chúng. Ba triệu dân miền Nam nhìn chúng bằng thái độ lãnh đạm. Vậy
mà Trần văn Trà, Nguyễn Thị Bình đi đâu cũng tuyên bố rằng, chính nhân
dân miền nam đã tổng nổi dậy, để lật đổ chính phủ VNCH’.
Nhưng cay cú nhất, phải là lời viết của Jean Larteguy, một nhà báo Pháp
từng cuồng nhiệt ca tụng Hồ Chí Minh và VC như thần thánh trong nhiều
năm qua . Ông viết ‘Sài Gòn mất bởi đạo quân Bắc Việt. Nhìn đoàn quân
chiến thắng đang hồ hởi trên những chiếc tăng T54 hay PT46, treo cờ máu
, đâu có khác gì cảnh quân Sô Viết đàn áp, xâm lăng Hung Gia Lợi, Tiếp
Khắc, Ba Lan tai Đông Âu năm nào .’
Ba mươi năm qua, hầu hết đồng bào VN trong cũng như ngoài nước tan nát
cửa nhà sau cuộc đổi đời không bao giờ dám nghĩ là sẽ có. Nên cứ mỗi lần
tháng tư quốc hận tới, cho dù ai chăng nửa, đại đa số người dân sống
thầm lặng bên vê đường thời gian hay thiểu số dấn thân trên con đường
đấu tranh quang phục đất nước, đều mang chung tâm trang bi thương, tức
tưởi, ngậm ngùi.
Tất cả đều là sự thật vì mọi bí mật của cuộc chiến đã được cac phe phái,
chính người trong cuộc hay các sử gia tìm hiểu, như giáo sư Morris ‘
Cọng sản Hà Nội đã thắng cuộc xâm lăng miền nam, nhờ tuyên truyền, đẻ và
thổi phồng bịa đặt các huyền thoại chính trị mà hầu hết, đều là chuyện
trên trời dưới biển. Có như vậy, VC mới dụ dỗ và phỉnh gạt được, nhiều
trí thức khoa bảng nhà báo trong và ngoài nước. Nhờ thế suốt cuộc, chính
thành phần này đã góp phần chiến thắng cho Hà Nội, không phải ở chiến
trường, mà là tại Paris, Luân Đôn và Hoa Thịnh Đốn. ‘
Ba mươi năm rồi, xin hãy trả lại cho người lính trận miền nam những gì
họ đã mất từ lâu, do những kẽ cứ hay tự xưng mình là trí thức, đã cướp
đoạt. Người lính VNCH không cần bất cứ ai phải vinh danh, vì chính cái
phẩm cách tuyệt luân phi thường của lính, đã có một vị trí xứng đáng
trong lòng dân tộc
Bổng ao ước sao cho đất nước sớm có tự do cuộc đời trở lại như thuở nào,
để dân-lính lại thỏa tình cá nước, lính từ dân mà có và dân sống được
nhờ sự bảo vệ thần thánh và chân thành của lính, điển hình như các cuộc
di tản khỏi vùng chiến cuộc Tết Mậu Thân 1968, mùa hè đỏ lửa 1972, cuộc
di tản tại Bình Thuận, Xuân Lộc và những ngày Sài Gòn hấp hối, cuối
tháng 4-1975.
‘ Ta về cúi mặt đầu sương điểm
nghe nặng từ tâm lượng đất trời
cám ơn hoa đã vì ta nở
thế giới vui vì mọi lẻ loi ‘
(Thơ Tô Thùy Yên}
Xóm Cồn
Mùa Quốc Hận 30-4-2005
HỒ ĐINH
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
-Chiến tranh VN toàn tập của Nguyễn Đức Phương
-THiên Hùng Ca QLVNCH của Phạm Phong Dinh
-Chính Trị Con Buôn Nước Mỹ của Phạm Kim Vinh
-Tài liệu của các Tướng Lãnh Đảo, Khôi.., của Thiếu Tá Phạm Châu Tài,
Nguyễn Hữu Chế, Nguyễn Phúc, Ý Yên..
-Báo chí KBC hải ngoại, PNDD, Hồn Việt
|