|
NGÔNG,
Trong dòng thơ tự sự
Của KHAI TRINH
|

nhà thơ Khai Trinh |
Từ mấy ngàn năm về
trước , tổ tiên ta đã khai sinh ra nước Văn Lang với hàm ý , đây là
những làng văn hóa của một dân tộc có văn hiến. Cũng trong cái lý
tưởng siêu việt nhân bản đó, thai nghén nên những lời ca dao của mẹ
từ thời lập quốc, lúc ngồi trên võng đào, ôm con trong lòng, giữa
gió lạnh căm căm , đã trở thành những nguồn cảm hứng nồng nàn bất
tận : |
“ Gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh
Tiết trời thu lạnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bống bồng bông, bống bồng bông
Võng đào mẹ bế, con rồng cháu tiên..”
Bài ca dao trên muôn đời được các từ mẫu dùng để hát ru con ,vì ý tưởng
vừa thiết tha gói trọn đủ tâm thức và tình người Hồng Lạc, lại như nhắc
nhớ cho ta đường về cội nguồn dân tộc. Bắt nguồn từ cái truyền thống đó,
nên không lạ gì khi hầu hết người Việt đều đam mê thơ nhạc, văn nghệ .
Đã có nhiều người bao đời, làm kinh hồn bạt vía kẻ thù, khi họ hát hò,
ngâm thơ hay sáng tạo thi văn trước chén thuốc độc, máy chém nơi pháp
trường. Nhờ vậy chúng ta ngày nay mới có được những trang thơ hùng Việt,
đọc được cái hùng khí dũng liệt của Nguyễn trung Trực đốt tàu giặc trên
sông Nhật Tảo hay những mảnh gương tiết nghĩa rạng ngời của các bậc anh
hùng liệt nữ Đặng Dung, Nguyễn Biểu, Thủ khoa Huân, Trương Định, Mai
xuân Thưởng, Trần cao Vân, Nguyễn thái Ho.c, Cô Giang, Cô Bắc..Những vần
thơ huyết lệ muôn đời dính liền với dân tộc, miên viễn bừng sáng rạng rỡ
như mây trời.
Nói cho cùng thời nào cũng vậy, chỉ có một thiểu số người Việt không tim
óc, vô tâm dửng dưng trước thù nhà nợ nước, còn tuyệt đại đều đau lòng
con quốc quốc, mỏi miệng cái gia gia, họ muốn phanh thây xé xác kẻ thù
nhưng ngọn lửa thiêng chưa bùng sáng được vì thời cơ chưa tới và ngọn
lửa ấy vẫn ngầm cháy như lớp than vùi dưới tro , chỉ chờ có gió ngàn
phương là thiêu hết bạo lực, bạo quyền.
Bỏ nước ra đi sống đời hắt hiu tha phương tội nghiệp, nhiều người nhớ
nhà nhớ nước, ngày ngày lấy nước mắt làm canh chan cơm, cho vơi bớt nổi
bâng khuâng một thời oai hùng và thơ mộng của dân tộc..Tất cả đã bị giặc
tàn phá bằng ý thức hệ ngoại lai khiến cho một nền văn hiến cổ của một
dân tộc, gần như bị tiêu vong trong lặng lẽ như các thời Bắc thuộc, Pháp
trị và gần nhất trong mấy chục năm qua dưới cùm gông cọng sản quốc tế.
Tự dưng nghĩ tới những người muôn năm củ, những văn thi sĩ miền bắc nổi
tiếng thời tiền chiến, bị kẹt trong thiên đàng xã nghĩa 1954-1975 như
Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu trọng Lư,Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh..có người chết
sớm có người chết muộn nhưng tất cả đều đã chết trong lòng mọi người từ
1955 vì họ không còn trái tim để sáng tạo. Lại nghĩ rồi một ngày nào đó,
chắc là gần lắm sẽ tới phiên những thế hệ thơ hùng Việt trên văn đàn hải
ngoại, càng lúc càng ít ỏi dù rằng họ vẫn ngồi đó, vẫn viết những bài bi
ca vong quốc hận, chỉ mong làm một nhịp cầu liên lạc, nối lại cái truyền
thống thơ văn ái quốc trong dòng sử Việt, giữa người Việt trong và ngoài
nước hay giữa các thế hệ hôm nay.
Múa bút, mài gươm dùng thơ văn thay súng đùa giỡn với kẻ thù, quả là một
thú chơi ngông của kẽ sĩ . Chuyện làm nhớ lại vụ Hoàng cao Khải tổ chức
cuộc thi hoa thời Pháp thuộc, mục đích làm cho mọi người vui chơi hưởng
thụ , quên đi nổi nhục mất nước cũng như sự chống đối kẻ thù. Trước cảnh
tượng đó, Nguyễn Khuyến cũng như Đổ Mục , một thi gia đời Đường đã viết
:
“ thương nữ bất tri vong quốc hận
cách giang do xướng hậu đình hoa “
lời thơ hàm ý trách móc sự vô tâm của con người trước nhục nước, dù
người đó chỉ là một ca kỷ. Trong thế kỷ này, từ khi xuất hiện lần đầu ở
hang Pắc Pó đến nay, cọng sản Hà Nội luôn học sách Hòang cao Khải, chơi
trò văn dĩ tải đạo, đề cao chất thép của thơ, dùng thơ tải chủ nghĩa Mác
Lê, nghị quyết, đường lối của đảng..khiến thơ văn xã nghĩa thành thằng
mõ rao hàng, tuyên truyền chính trị. Nhưng khi cọng sản cướp được nước,
thơ văn lại trở thành món hàng quốc cấm, trừ phi đó là thứ thơ vô tâm.
Tại hải ngoại, thơ văn cũng là một vấn đề nhức nhối cho những người cầm
bút vì họ không biết viết sao, làm gì cho trọn vẹn, vừa chống cộng hữu
hiệu, vừa không dẵm lên đoạn đường thứ nhất của cọng sản đã đi qua, lấy
thi văn làm công cụ tuyên truyền, khiến thơ thành vè.
Nói như Nguyễn bá Trạc :” các văn sĩ thi sĩ, trong niềm đau cưú nước.
Vẫn biết hương hoa với cuộc đời.” Nhận thức thật là chí lý giữa trách
nhiệm và tính người, bởi không ai có quyền bắt nhà thơ phải đóng khung,
dù đó là một nhà thơ chiến đấu.
Trong một ngẫu nhiên kỳ cục, tình cờ đọc được năm tập thơ TỰ SỰ của thi
sĩ Khai Trinh, xuất bản ở hải ngoại liên tục từ năm 1998 tới 2002. Đọc
hết mấy trăm bài thơ của tác giả, thích thú vì quan niệm tình lý phân
minh, thể hiện rõ ràng qua nét thơ, nét nghĩ, nét tự do độc đáo chứng tỏ
cái hùng khí ngông cuồng, coi thường bạo lực, giỡn mặt tử thần.
Thơ không thể là thứ vô tâm, bởi thơ là gió, là biển là những hạt mọc
lên từ đất nên thơ có hồn. Bởi vậy nếu chúng ta vốn là những kẻ tị nạn
cọng sản, vì cọng sản mà bỏ nước ra đi, nay nếu từ bỏ lớp áo trên, nên
dù có làm thơ hay viết văn thì thứ thơ văn trên cũng chỉ là thứ thơ vô
tâm đất sét, có màu mà không có hồn, một thứ trò chơi chữ rỗng tếch. Đây
mới chính là nét độc đáo trong dòng thơ Khai Trinh, vì từ tập thơ đầu
cho tới tập thơ năm 2002, nhà thơ lúc nào cũng làm thơ qua thân phận của
người tị nạn, nói chuyện liên quan tới đời sống tị nạn, chuyện trong
nước, chuyện ngoài nước, làm thơ như làm báo, thấy sao ghi vậy qua tâm
tình của một trái tim hữu tâm, vui thì cười, buồn khóc..rất bình thường
nhưng đầy đam mê cảm lụy. Một khám phá quan trọng khác trong thơ Khai
Trinh là khuôn phép chữ nghĩa, giá trị đạo đức. Chính điều này làm người
đọc thơ Khai Trinh không thấy nản, dù nhiều bài khô ngắt, chát chua do
thơ của ông tuy cạn tào ráo mán nhưng không phải là thứ thơ đấu tranh
hùng hục, la hét om sòm. Trái lại đọc xong, người đọc vẫn có cái cảm
khoái của một người lính trận, tay đang ghìm súng đợi giặc mà hồn vẫn
lâng lâng nghĩ tới, nhỡ mai mình không về thì thương em đợi chờ héo hắt
tình sầu.
Quê hương là của chung mọi người, có hồn, có máu không phải là một khái
niệm trừu tượng. Nhà thơ cũng vậy nên phải biết trách nhiệm của mình
trước quê hương, vừa anh hùng, vừa lãng mạng, cầm gươm ra trận khi biên
cương khói lửa, yêu đời sửa đời, coi thường chuyện riêng tư nhưng vẫn lý
sự. Đó là cái cung cách thơ cuả Khai Trinh.
Tôi không phải là một nhà phê bình thơ nên không dám đi sâu vào cõi thơ
của người thơ, không khen hay khen dở vì mỗi nhà thơ có một sắc thái
riêng biệt và độc đáo, phương chi thi sĩ Khai Trinh vốn nổi tiếng từ lâu
trên văn đàn hải ngoại. Ở đây tôi chỉ nhận xét về cái chung và cái riêng
trong dòng thơ Khai Trinh : Chung thì hòa điệu còn riêng lại rất khí
phách, ngông cuồng.
Nhà thơ nào cũng vậy, luôn mang mâu thuẫn bề bề, Khai Trinh là người làm
thơ châm biếm, một nhà báo, một học giả ôn cố tri tân. Mỗi một thể loại
đều có cái riêng tư của nó nhưng nói chung trong khi sáng tạo tất cả các
thể loại, kể luôn việc sử dụng thường trực lối thơ Đường , ông luôn luôn
ung dung và cao ngạo. Đó là cái ngông đáng yêu vậy.
Ngông là một phong thái bất hữu của kẻ sỉ, có tác dụng quyến rũ trong
mọi lãnh vực, nhất là văn chương thi phú. Ngông là bức thang đánh giá ,
ít ra về cái liêm sỉ của con người. Thật vậy trước bạo lực, bạo quyền,
trước những thói hư tật xấu, trước hăm dọa chết người đợi chờ , kẻ sĩ
vẫn hiên ngang múa bút , châm chọc, tố cáo và khinh miệt đối phương. Đó
không phải là cuồng ngạo thì gọi là gì ? Trong năm tập thơ của Khai
Trinh, từ trang đầu đến trang cuối, những kẻ xấu, bại hoại, giặc Cộng
bán nước, lũ lấy áo đội lốt, phường con buôn chính trị, đạo đức...có ai
tránh khỏi nụ cười cuồng ngạo của nhà thơ ? .Ngông trong thơ Khai Trinh
là một thái độ, thứ vũ khí sắc bén trong tay người lính củ không còn vũ
khí. Nó làm cho thơ thêm có lửa, nó khiến cho người đọc cũng bồn chồn
như đang sắp dự vào những phiên tòa mà nhà thơ đang thụ lý. Ngông mà
không ngạo mạn khinh đời quá quắt trong thơ của Bùi Giáng và Nguyễn đức
Sơn trước năm 1975 ở miền nam, nên làm cho người đọc cũng thích ngông để
tạo cho mình cái uy vũ của kẻ sĩ, làm trai đáng nên trai.
Trong nền văn học sử VN, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm là hai kẻ
cuồng ngạo đạo đức, thân phận của kẻ bề trên, lưng không uốn, lộc nên
từ, xem phú quý tựa khói sương, dòm cuộc đời khinh bạc chán chường. Rồi
thì Dương Khuê, Nguyễn công Trứ, Hồ xuân Hương, Cao bá Quát, Tú Xương,
Tản Đà..tất cả đều ngông trong nổi buồn, ngông để mơ ước, ngông chỉ
ngông chơi thế thôi. Trong dòng thơ Khai Trinh, trái lại hầu như hội đủ
mọi thứ ngông trên đời. Ngông của nhà đạo đức dạy đời những kẻ bại hoại,
ngông của người mất nước trước bạo quyền cong sản, để tỏ cái uy vũ của
những người đã và đang chiến đấu sắp đạt được thắng lợi, ngộng của người
nghệ sỹ trước thời cuộc. Tất cả đều là cái ngông đáng yêu trong niềm tự
hào, cũng chính cái ngông này chắc chắn đã làm nhà thơ thêm hứng khởi,
gan dạ và ngẩng mặt nhìn trời.
Cọng sản không bao giờ để yên cho những kẽ cuồng ngạo dám chống lại
chúng, những gương Phùng Quán, Hữu Loan, Phan Khôi, Trần Dần..vì ngang
ngạo chống đảng nên suốt đời bị trù dập khổ đau. Như vậy làm thơ chua,
thơ ngông, trước hết phải là những kẻ xâm mình, không dễ, ngông cái kiểu
Nguyễn đức Sơn hay Bùi Giáng, chẳng qua chỉ khiến cho thiên hạ phì cười.
Nhưng ngông của Khai Trinh qua cái bản lĩnh vững vàng, văn tự sắc sảo,
cá tính trang nghiêm và nhất là tư tưởng sắt thép, mới đúng là văn dĩ
tải đạo. Thơ đâu cần phải ngông mới hay nhưng nếu thơ chiến đấu như dòng
thơ của Khai trinh mà không có cái cuồng ngông kẻ sĩ, thì đâu còn cái uy
vũ của kẻ điếc không biết sợ súng ?.
“ Tàu đi ắt hẳn có ngày về
khúc khải hoàn ca khắp nẻo quê
quốc gọi tàu đi chờ bến đợi
hòang hôn diệu vợi trong câu thề
(tho Khai Trinh)
Cay nghiệt trong nhận xét, xô bồ lựa chon các đối tượng, không nương tay
khi đặt bút vẽ lên những bức tranh vân câu của thời đại., quả thật nhà
thơ Khai trinh đã mang lại trong nền thi ca VN hải ngoại, tiếng thơ mới
: tiếng nói của những người bị áp bức đang tự mình tìm lối tháo gỡ cùm
gông vây bủa tâm hồn.
Đau đớn thay cho người Việt từ sau tháng 4-1975.
Xóm biển 18-5-03
Mường Giang viết tặng Khai Trinh. |