|
Một Thời Bên Phố
Nhật mộ hương quan
hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Thôi Hiệu)
Thế giới đang chuyển mình bước vào một thiên niên kỹ mới. Giữa nhịp sống
dồn dập với bao nhiêu phát minh mới của khoa học, bao nhiêu đổi thay
kinh tế nhằm cải tiến nếp sống con người, ai đó vẫn còn đang dừng lại
ngóng tìm bóng dáng quê hương như lời thơ của Thôi Hiệu mà đã được Vũ
Hoàng Chương gửi gấm nỗi tâm sự miên man trong lời kêu ai oán cuối quãng
đời người thi sỉ: "Gần xa chiều xuống đâu quê quán? Chớ giục cơn sầu nữa
sóng ơi"...
Có những hình ảnh nào đó đã ghi khắc sâu đậm trong tâm tư mà mình không
thể nào quên được. Những kỷ niệm thân thương như mảnh lụa nhung êm ả
quấn quyện vào tâm khãm, chiếm một chổ dịu dàng yêu dấu nhất cuả ký ức
con người mà ta mang theo cả cuộc đời để thương và để nhớ...
Vào khoảng cuối thập niên 50, một biến cố đáng kể đến với gia đình chúng
tôi. Chúng tôi phải dọn khỏi phố vườn bông (được gọi là "bùng binh")
Phan Thiết trên đường Lê Văn Duyệt, bỏ lại đằng sau mớ kỹ niệm đáng yêu.
Bao nhiêu hình ảnh thân thương với các bạn bè nhỏ bé của tuổi ấu thơ,
với các chị và 2 cô em gái chúng tôi tại căn nhà ấy, tức là tiệm may
Phan Sinh kế bên nhà hàng Nam Thạnh Lầu (mà mọi người vẫn gọi là "quán
Hai Mọi", cách vài căn từ tiệm may Mai Xuân Trượng). Mọi hình ảnh thân
thương bỗng nhiên trở thành quá khứ. Một cái gì hụt hẩng trống vắng xâm
chiếm cả tâm hồn ngây thơ khờ dại trong tôi... Thời gian sau, khi tôi có
dịp trở lại căn nhà cũ lần đầu tiên, tôi thấy mình là một kẽ xa lạ đứng
ngỡ ngàng bên lề đường, nhìn thoáng vội vã vào bên trong căn nhà yêu dấu
như sợ ai bắt gặp. Căn nhà thân thuộc đó, bây giờ được mang tên mới là
tiệm Huê Lợi với các thùng đinh ốc và vật liệu xây cất trông thật kỳ lạ
được xếp hàng bày bán la liệt từ trong ra ngoài. Các dấu vết thân yêu
các tiếng cười tiếng ca xưa không còn nữa, dầu nắng chiều vàng mềm mại
vẫn còn lung linh từ mái hiên khu hàng xóm củ. Hương thơm từ không gian
cao như đã ngừng rơi đâu đó...Những ấn tượng thời niên thiếu ấy đã theo
giòng đời trôi vào quên lãng từ hơn 40 năm qua. So ra, nó chỉ là một
phần gì rất khiêm nhượng, quá tầm thường, thật nhỏ bé, so sánh với những
mất mát đau thương nghiệt ngã, những đòn thù mà con người VN đã phải
hứng chịu sau 1975. Nhưng đống tro tàn kỹ niệm ấy phải chăng chỉ là lớp
khoác che đậy những tâm tư vẫn còn âm ỉ cháy trong lòng kẽ tha hương,
chỉ chờ ai đó khơi lại để trôi về, như người xưa ngóng đợi một mình bên
bờ sông vắng vì ai đó đã lỗi hẹn...
Vào những tháng ngày thơ ấu trong trí nhớ non kém mà tôi còn có thể hình
dung được, cả phố Phan Thiết bình dị vừa chứng kiến nhiều dâu bể đổi
thay trong nước. Vua Bảo Đại xuống, Ngô Đình Diệm lên thay, sau một cuộc
bầu cử "trưng cầu dân ý". Tân Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người từng giử
chức Tuần Vũ Bình Thuận lúc mới tròn 21 tuổi, một chức vụ tương tự như
Tỉnh Trưởng sau này. (Sau cuộc đảo chánh năm 1963, giấy khai tử của ông
có kê khai chức vụ của ông là "Tuần Vũ Bình Thuận" chứ không phải là
"Tổng Thống VNCH"). Đồng bạc mới VN thời đó đó có giá trị đáng kể. Chỉ
cần hai cắc bạc chúng tôi có thể mua được cả một rổ ốc ruốc về để chị em
chúng tôi "lể" ăn mệt nghỉ. Tôi nhớ lúc chánh phủ mới vừa cho lưu hành
tiền mới, tôi cầm đồng bạc mới do má cho, đi mua món trái cây trị giá
năm cắc. Bà bán hàng không thối lại năm cắc mà lại bà xé đôi đồng bạc
giấy trả cho tôi một nữa vừa được xé ra! Trong hoang mang tôi về kể với
các chị và ba má, thì mới hiểu lúc đó tân chính phủ vừa nhậm chức chưa
có tiền cắc mới để cho lưu hành.
Dạo ấy MTGPMN vẫn còn trong trứng nước, chưa được Đảng CS Bắc Việt cho
chính thức ra đời, nên các tuyến đường xe đò và các chuyến xe lửa đi Sài
Gòn hoặc ra Nha Trang chưa bị phá hoại, vẫn còn lưu hành thông suốt.
Thành phố hiền hoà quê tôi được hưởng vài năm yên lành trước khi thực sự
chứng kiến những thãm cảnh cuả chiến tranh làm tan đi mất những hi vọng
về hoà bình của người dân trong phố. Thời gian ấy tôi được may mắn theo
ba tôi mấy chuyến đi Saì Gòn bằng xe lửa. Xe khởi hành rời ga Phan Thiết
khoãng chừng sập tối, mình có thể ngủ một giấc cho đến khi xe ghé các
trạm khuya thức dậy ăn cháo gà, rồi đến cổng ga Sài Gòn (công trường
Quách Thị Trang sau này) với một không khí hấp dẩn thật khác lạ do các
tiếng xích lô máy nổ bình bịch, dù lúc trời chỉ vừa tờ mờ rựng sáng.
Thành phố Phan Thiết bình dị trong các năm có thể nói là thanh bình ấy
thật đáng yêu với các phiên chợ Tết nhộn nhịp, và khắp phố phường dấu
vết của hạnh phúc thấp thoáng ló dạng đâu đây. Ba tôi không còn đi lưu
diển với đoàn hát nữa, về lại Phan Thiết lập nghiệp với tiệm may Phan
Sinh. Tuy nhiên các diễn viên củ trong đoàn hát như cô Út, chú Tao Ngộ,
chú Võ, v.v... vẫn ghé thăm nhà tôi để cùng đờn ca xướng hát các bài bản
ưng ý cuả thời đi lưu diễn. Thỉnh thoảng ba tôi vẫn ngân nga những bài
ca xưa, cả những khi ông đang cắt vải thoăn thoát theo đường phấn kẻ màu
xanh với chiếc kéo cắt thật bén và lớn, hoặc lúc chân đang dạp đều nhịp
chiếc máy may với đôi tay ông lèo lái các đường vải. Các máy may khác
trong nhà chạy đều theo nhịp đạp của các thợ chính, thợ phụ, hoặc các
anh còn đang tập sự. Các anh thợ thanh niên thì dạn dĩ hay ca góp vui
nối tiếp theo ba tôi, hoặc có người ra câu đố, hoặc kể chuyện vui. Các
người giúp việc đôi khi cũng trở thành đề tài cho các thanh niên giởn
phá. Các chị thợ thường chỉ phụ đơm khuy và kết nút, tham gia cuộc vui
một cách kín đáo hơn bằng các tiếng cười dòn. Chị Sáu thường bị các anh
thợ chiếu cố trêu ghẹo suốt ngày vì chị có nét xinh ở tuổi dậy thì. Sau
giờ làm việc, các anh chị vẫn còn tiếp tục kể chuyện vui hoặc đờn ca, có
khi còn ngũ lại đêm trong 1 phòng lầu dưới. Mé sau căn nhà, trên lầu
trên có một bức tường bằng gạch, được xây hơi kiểu cọ, chừa khuyết một
vòng tròn khá lớn như vầng trăng khiến cho người trong nhà có thể nhìn
được ra sân thượng ở mé sau. Chị cả cuả chúng tôi, chị Hoàng Anh, thường
leo ngồi vào vòng trăng đó, thả chân đong đưa vừa ca các bài như Ánh
trăng trắng ngà, có cây đa to... Dạo ấy chị Anh đã là 1 thiếu nữ cao và
thon gầy trong chiếc áo dài trắng. Trong khi chị Hoàng Minh (tức chị
Nam) vẫn còn học trường Nữ bậc tiểu học, chị Anh đã vào học trường Phan
Bội Châu, được ba má tôi mua cho một chiếc xe đạp mà lúc nào chị cũng
giử bóng loáng. (Lúc sau, theo phong trào Velo Solex, chị cũng có 1
chiếc Velo thay cho xe đạp). Chị theo sát ba tôi từ những dịp đi lưu
diễn hay cả những lúc ba đi đá banh bên Sân Vận Động. Các cầu thủ đá
banh mặc quần shọt, áo may ô và mang giầy đinh. Có lần trên sân banh,
khi chị Anh đang giử áo quần của ba tôi vừa thay ra, một thanh niên đến
nói với chị là "Ba của cô kêu tôi đến nhờ cô đưa quần áo cho ổng
thay"... Chị Anh bèn đưa hết quần áo, có cả bóp và tiền bạc. Đến khi ba
tôi đá banh xong, trỡ lại lấy quần áo đi thay, mới biết chị Anh đã bị kẽ
lạ gạt lấy hết quần áo giấy tờ. Em Hoàng Yến kế tôi hảy còn bé chưa đi
học, và em Thanh Hà chỉ mới chập chững biết đi. Trong các bài ca mà tôi
nghe ba tôi ca, có một bài với lời thật ngộ nghỉnh khiến tôi theo hỏi và
được ba cho biết là do bác Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh sáng tác, thời
bác còn làm bầu gánh hát - thời thật xa xưa trước khi bác trở thành Dân
Biểu. Bài hát này các chị em chúng tôi sau này đều thuộc lòng (và trở
thành bài ca chung trong những dịp vui mỗi khi gia đình hội ngộ):
Mau vô trỏng, cúi đầu thưa với ổng
Rằng tôi đợi ngoài cổng
Rồi trở ra mau nói, để cho tôi thăm hỏi
Kẻo chờ lâu cẳng mõi
Ông quan ấy thân với tôi lắm đấy
Tôi với ổng họ Trình
Trình ấy làm Quan
Còn Trình này thì bán quán giữa rừng "hoang"
Quán với Quan cũng gần
Quan với Quán một vần...
Những lúc cả nhà theo tiếng đờn cuả cha tôi quây quần ca hát, mẹ tôi
thỉnh thoãng cũng ca góp một bài với lời lẻ thật xa xưa "Dạ dạ dập đầu
... Thưa chuyện với chị dâu ..." Có một bài ca rất dài mà lủ chúng tôi
rất thích nghe giọng cuả Ba ca với những hơi ngân, những nhịp ngắt với
tiếng song lang gỏ nhịp tài tình cuả điệu Xàng Xê, hoặc khúc lái ngân
nga lên xuống giọng thật đặc biệt, khiến cho người nghe cãm thấy như có
một làn mây ấm cúng nào đó đang vây quyện khắp không gian:
Hậu đô Bắc Hà,
Vào triều Lê Cảnh Hưng năm thứ 46,
Hân hạnh được cung nghinh Đức Bình Bắc Tướng Quân Nguyễn Huệ
Thống lảnh đại đội binh hùng
Hát khúc khải hoàn vào cổ luỷ Thăng Long
Sau khi bình giặc đã thành công
Nhưng vì thấy Lê Trịnh tranh hùng muôn dân đồ thán
Cho nên Nguyễn Tướng Quân phải diệt Trịnh phù Lê
Tảo trừ bọn Trịnh tư quyền là Trịnh Tứ Phương
Hạ thành sơn nam
Mơí thấu nhập kinh đô vào Nam giao đài bái mạng vua Lê Hiến Tôn
Vì mộ tài danh viên dũng tướng thiếu niên anh hùng lỗi lạc
Chắc có lẽ sau này phải nhờ quyền bảo hộ của Tây Sơn
Thế cho nên Hiến Tôn Hoàng Đế mới định gã trung thần
Là lịnh ái nử Công Chúa Ngọc Hân
Kịp đến n gày mồng 3 tháng 8 năm Bính Ngọ
Vua Thái Đức nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc ngự ra Bắc Hà
Bèn cùng tân quân Lê Chiêu Thống thừa nghinh trọng rất là uy nghi
Phán rằng "Từ khi phụ thân trẫm đây thất lộc
Trẫm lên kế tự ngôi trời
Đồ lao cộng tác với bá quan
Trẫm những mong rằng trăm họ được bình an
Nhưng Trẫm vẫn biết rằng tuổi Trẫm còn thiếu niên
Mà việc triều đình quá ư to tát
Bởi thế cho nên mà vận mạng của Lê triều
Chẵng may mà gặp cơn nguy biến
Trẫm chỉ nhờ lượng hải hà và ơn tư trợ
Của Tây Sơn quân
Lấy đức bủa khắp bốn phương
..................................................
Sau những quãng đời khó khăn vật vã truân chuyên với cuộc sống từ những
ngày Tây về ruồng bố bắt dân, rồi chuyến lưu lạc sang tận Cam Bốt học
may, cha mẹ chúng tôi vừa mới bắt đầu gầy dựng được một cửa tiệm may để
sinh nhai với những điều tạm gọi là yên ổn của mái ấm gia đình, tuy đơn
sơ nhưng tràn đầy hạnh phúc. Bỗng nhiên một hôm cần tiền, người chủ căn
phố nhà chúng tôi đang ở trỡ về lại Phan Thiết và quyết định bán căn nhà
thật gấp, chứ không cho gia đình tôi thuê nữa, mặc dầu thời hạn thuê
mướn vẫn còn và công việc làm ăn của ba tôi đang đà phạt đạt. Vì giá bán
căn phố quá cao cha mẹ tôi không đủ tiền để chồng mua căn phố ấy, gia
đình chúng tôi đành phải quyết định dọn đi.
Trong khi chờ đợi dọn về căn nhà mới xây trước ấp Đức Nghiả, gia đình
chúng tôi về ở tạm khu Cồn Chà, nơi mà tâm trí nhỏ bé trong tôi có cãm
tưởng cách xa khu nhà bên phố củ hằng diệu vợi, như thuộc về một không
gian nào xa cách hẳn... Nơi chổ mới xa lạ chúng tôi phải đi bằng xe đạp
hoặc được Ba chở bằng xe gắn máy Sach thì mới về được đến phố Gia Long .
Dầu chỉ ở mấy tháng, chúng tôi cũng đã có dịp nhìn thấy trực tiếp nếp
sinh hoạt thay đổi của các bạn ghe mà nếp sống được gắn liền với các vụ
cá...từ những lể lộc của "Vạn", lể cúng tế khi có cá ông "lị", những mùa
cá rộ, mọi người bạn cá khắp xóm đều thắp đèn ra đường hì hục làm muối,
vô thùng, hàn xì, khiêng vác, rầm rộ thâu đêm không ai mà không bận bịu
làm lụng. Có cảnh tượng cuả một gia đình hàng xóm bên kia đường, đối với
chúng tôi thật lạ lùng lẫn thương tâm. Gia đình ấy có một người cha say
sưa liên miên. Họ có 2 người con trai, người con lớn đã lên 17 tuổi .
Mỗi lần say sưa, người cha về đánh đập vợ con, nhất là cậu con cả. Ông
ta lột hết quần áo người con lớn, lôi anh ta trần trùng trục ra giữa
đường quất roi tơi tả bất kể nơi nào trên thân thể trước sự chứng kiến
của đám người lớn nhỏ trong xóm tò mò đến xem...Sau mấy lần tiếp diễn
cảnh đánh đập tàn bạo ấy, người con lớn vì nhục nhã, một hôm bỏ nhà đi
biền biệt. Buổi tối khu cồn chà người ta có thể nghe văng vẳng tiếng
biễn vổ rạt rào vòng vọng thật buồn hiu với những đèn đường héo hắt vàng
vọt và mùi đất biển thoảng tanh mùi cá, thật khác với phố Lê Văn Duyệt
nhộn nhịp mà tôi đã quen thuộc.
Những cảnh khá xa lạ đối với quảng đời nhỏ bé ngây thơ ấy khiến tôi nhớ
và thương làm sao những ngày bên phố. Nhớ các bạn học tí hon lủ chúng
tôi trường Bác Giáo Nhiều, kể cả những lần bắn "bì" (tức là giấy quấn
thật cứng chắc, gập đôi lại để bắn bằng giây thung) với nhóm anh em
Thuận và Hưng tiệm vàng Mỹ Quang (mà chị Tuyết Mai của tụi nó là bạn học
thân với chị Anh của tôi và sau này làm phù dâu cho chị), nhừng trò chơi
"phóng bút" (dùng đầu sắt của cây viết mực chấm từng mắt cá tay và phóng
ghim vào ụ cát) với các trẻ con hàng xóm. Thương những chiều nắng rọi
ngiêng nghiêng từ mé nhà hàng Kim Sơn ngồi trước nhà nhìn sang công viên
trước mặt chờ mẹ đi chợ về với chút quà, thương mùi thơm bánh mì Nghi
Hưng mới ra lò nóng hổi được các trẻ em đi rao bán, thương những ly "siủ
phé" ba và các tay mê đá banh như chú Bảy Đài, chú Buộc (sau này vì bất
cẩn trong lúc đổ chì, chú bị mù 1 mắt), chú Tí Hoan, v.v... quây quần
ngồi uống bàn bạc sau những trận đá từ sân banh về, hay thương mùi nem
nướng và mùi bánh xèo thơm ngào ngạt từ quầy bánh xèo cố hửu của gia
đình chị Quyệt, một người bạn thật dịu hiền của ch.i Nam (ba má chị đặt
tên chị là Nguyệt, nhưng khi làm giấy tờ bị đánh vần sai đi, trở thành
"Quyệt" ) bên hông tiệm vàng Đạt Thành mé tiệm Kim Sơn mà tôi tin vẫn là
chổ ăn nem nướng và bánh xèo ngon nhất...mà có lẽ ấn tượng đó sẽ còn mãi
cho đến suốt cuộc đời.
Khu vườn bông dưới dốc cầu Phan Thiết trước căn nhà thân yêu ấy nơi tôi
lớn lên đã là địa điểm chính của bao biến cố vui buồn của người dân tỉnh
lỵ ... Khoảng trống rộng lớn từ phiá bên nay là tiệm may Phan Sinh nhà
tôi, đối điện bên kia đường là các tiệm Tân Lập, Lê Chính Ngữ bán xe
đạp, và tiệm nước Nam Nhất Viên... sang góc xéo là quán nước Tân Phương
Viên... và bên kia đường là tiệm vàng Đạt Thành đầu phố Gia Long... là
một mặt bằng tráng nhựa khá lớn mà ta có cãm tưởng có công dụng tương tự
như quãng trường Thiên An Môn thuộc Bắc Kinh cuả Trung Hoa. Chính tại
nơi đây đã là nơi con Rồng hùng vĩ, mỹ lệ và thiêng liêng nhất cuả Phan
Thiết trổ tài vùng vẫy trong các dịp lể lộc hội hè. Tại nơi ấy những
cuộc diển hành, biểu tình, các xe hoa đều quy tụ về để chuyên chở các
biến cố vui buồn của thành phố. Rồi những buổi chợ Tết thâu đêm cũng đều
diển ra bắt đầu từ khu cuối vườn bông ấy kéo lan dài khắp phố Gia Long,
lần ra các hang cùng ngỏ hẻm của khu chợ chính.
Thật là khó quên ngày lể được gọi là Thỉnh Ông Đi Chơi, lủ trẻ chúng tôi
nô nức đi ra đường xem giửa rừng người, cảnh tượng con Rồng uốn lượn
theo trái Châu được vũ lộng xoay vần liên tục bởi một thanh niên lực
lưỡng để dẩn Rồng quây quyện, cuộn các con Lân vào giữa, theo tiếng
trống "tùm tùm...tùm tùm..." hùng dũng, tiếng chiêng "cheng...cheng..."
ngân vang, tiếng tu huýt tíu tít điều khiển, tiếng chân người của đoàn
Rồng to lớn, tiếng lục lạc từ thân Rồng lúc lắc theo nhịp chân chạy xào
xạc reo vang khắp nơi, cùng xen lẫn các điệu trống Lân "cắc cá lắc cắc
cắc... tùng tùng...." khi thì dồn dập, khi thì "xổ..." một tràng dài,
khi nhịp đều "cắc tùng tùng... cắc tùng tùng..." lúc các con Lân chồng
người lên cao để tung qua mình Rồng thoát khỏi vòng vây...
Vì một dịp tình cờ tôi có đến Chuà Ông để ngắm nghiá một cách say sưa
các chi tiết cuả con Rồng Phan Thiết, dầu không bao giờ tôi đủ can đãm
đến quá gần vì sợ. Mình Rồng có cài hằng ngàn chiếc "vẩy" óng ánh. Một
dịp nọ, có một trẻ lượm được một chiếc vẫy Rồng, tôi và các bạn tò mò
đến ngắm nghiá. Mỗi vẩy Rồng là một miếng gương tròn (cở gương thời ấy
dành cho các phụ nữ mang theo để soi mặt). Mặt sau của các vẩy gương
Rồng ấy có in tên của ân nhân bảo trợ. Đầu Rồng màu trắng, với nét thanh
cao, hùng vĩ, có hai chiếc sừng cong cong khúc khỹu. Mủi Rồng nở nang
tròn lớn như sẵn sàng để khè ra lửa, mỗi bên mủi có các râu cong cong.
Rồng có chiếc lưỡi đỏ thè dài, với hàng râu cằm toả đều xuống mé dưới
miệng, vừa xinh đẹp vừa mang vẻ huyền thoại kỳ bí của một linh vật khiến
chúng tôi sờ sợ né xa, không bao giờ "đụng" vào ...
Cảnh tượng múa Rồng là cảnh của một linh vật đang đạp mây uốn mình quây
lượn theo sự thu hút của trái Châu (tức là một bảo vật). Tục truyền khi
nào có các linh vật Long, Lân. Qui, Phụng xuất hiện thì muôn dân sẽ
hưỡng được cảnh thanh bình hoan lạc. Trong tâm niệm người dân, cảnh Rồng
múa như mang được hình ảnh thiêng liêng cao cả về gần lại để chiếu cố
những khó khăn của thực tế cuộc sống. Mỗi khi Rồng muá, tôi vẫn còn nhớ
đầu Rồng khá nặng cần phải có 3 thanh niên cùng gồng vác, một người mang
chịu cây trụ chánh ở giửa, hai người kia mang 2 cây xéo chiụ 2 bên. Mình
Rồng là loại vải bố vừa chắc vừa mềm mại cho dể múa, màu sắc lộng lẫy
nhưng không diêm duá. Cách đều nhau giữa các khúc nối mềm mại bằng vải
bố là hằng mấy chục khúc thân cứng cáp cho các thanh niên mang đội vào
để lượn múa. Mỗi khúc thân Rồng có 1 sườn bằng nan mây, vừa vặn cho 1
người thanh niên nai nịt chịu ở lưng, vai và đai ở hông. Cứ vài phút
người này mõi lại có người khác vào thay thế. Lưng Rồng có dẩy Vi lỡm
chỡm chạy dài từ đầu cho đến khúc đuôi. Cuối các chân Rồng với những
móng vuốt nhọn là hình vẽ những cụm mây. Khúc đuôi cuối cùng của Rồng là
những khiá vi nhọn liả chiả, khá cao, lắc lư khi múa, cũng có một cây
trụ chính của đuôi do một người nai nịt ở hông và cầm chịu ở tay, và lại
thêm 2 dây kéo bởi 2 người khác ở hai bên để múa lượn. Những ngày tôi
còn bé theo xem hội hè đình đám, nghe tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm..."
của đội Rồng Phan Thiết hoặc tiếng trống dòn dả "Cắc cắc tùng..." của
các đội Lân chùa Ông hoặc các đội Lân Mặt Xẹp (với tiếng trống "tùm
tùm...tùm tùm tùm...tùng tùng tùng, tùm tùm..." thật đặc biệt và kỳ dị),
hay các đội Lân Sài Gòn (có leo cây trụ sắt thật cao và có muá võ) được
mời về dự lể Thỉnh Ông, chân tay tôi bổng trở nên bủn rủn, tim hồi hộp,
vì bị thu hút mãnh liệt bởi các âm thanh kỳ diệu ấy ... Sau này nghe nói
ở thành phố nỗi tiếng nào như New York hoặc Singapore có các con Rồng
rất hay và đẹp, tôi đều chú ý xem các hình ảnh để so sánh với con Rồng
Phan Thiết. Và vẫn chưa tìm được các đối tượng đáng kể để mà so sánh...
Trong ký ức tuổi trẻ thơ ngây ấy tôi nhớ hình ảnh của các bạn trẻ con
bên phố. Cùng học chung trường thầy Giáo Nhiều, được gọi là thầy "Thẹo",
là hầu hết lủ trẻ đường Lê Văn Duyệt dảy nhà tôi, và dảy phiá bên kia
bùng binh, tức đường Nguyễn Văn Thành. Cùng học chung trường thời ấy có
con của các bác Vui Vui, bác Năm Phùng, tiệm Thành Kim, Mỹ Quang, Mai
Xuân Trượng v.v...bên kia đường là con của bác Tân Lập, Lê Chánh Ngử...
có cả hai chị em Thanh và Bạch cháu cô Nam Phong nhà ở đường Đinh Tiên
Hoàng phía trong tiệm billiard chú "Buộc" nữa. Bên phố Gia Long các tiệm
Vĩnh Hưng, Phước Hưng, kéo dài đến tiệm chú Bé Vĩnh Lợi cũng đều gửi con
học chung trường này... Sau ngày anh cả tôi mất lúc vừa 2 tuổi, mẹ tôi
sinh chị Anh rồi chị Nam. Lúc sanh được con trai, người mình có tục lệ
hay cho đeo khoen ở tai để khỏi bị ông bà "bắt", vì ngở là con gái (?).
Tôi và Hiệp con bác Tân Lập đều rơi vào hoàn cảnh đó. Hiệp con bác Tân
Lập (vẫn thường được các bạn bè thân yêu gọi là Hiệp Lé, sau này được
người chú tập đánh trống, trỡ thành 1 tay trống xuất sắc), khi đi học vỡ
lòng vẫn còn mang khoen ở tai. Bây giờ mỗi khi sờ lên cuối vành tai trái
tôi vẫn còn dấu lổ tai đeo khoen ngày xưa, mặc dầu lổ ấy đã được lấp kín
từ lâu. Trường thầy Giáo Thẹo rất nghiêm và nỗi tiếng đánh học trò rất
đau. Viết bằng tay trái là bị khẻ tay. Nói chuyện trong lớp thầy kêu lên
bắt quỳ lấy thước kẻ vào đít. Đứa nào không thuộc bài hay chưa làm bài
tập thì mặt mủi xanh rờn vì sợ thầy phạt đòn. Sau này kể cả quảng đời đi
lính, tôi chưa bao giờ sợ một người có nhiều uy quyền đến thế! Hôm nhập
trường mẹ tôi có mua cho tôi một quyễn tập viết mà bây giờ tôi vẫn còn
nhớ. Quyễn tập ấy có hàng chử in ngoài bià xinh xinh đã khiến cho tôi
suy nghỉ miên man...Đó là mấy chử "Ngày Nay Học Tập, Ngày Mai Giúp Đời".
Ôi chao quả là 1 ý tưởng ngoài sức tưởng tượng. Lủ trẻ nít ăn chưa no,
lo chưa tới như chúng tôi, mà lại hình dung có một ngày nào đó mình sẽ
làm một cái gì để "giúp đời". Tuy vậy, vì ngày nào cũng đọc, mấy chử đơn
sơ đó đã ghi khắc vào trong tâm khãm. Câu chử in đó nỗi bật trong ký ức
về mái trường yêu dấu của thầy Giáo Nhiều. Tôi học trường thầy được
khoảng 1 năm thì có 1 cậu bé kháu khỉnh con bác Năm Phùng mới vào học
lớp vở lòng và ngồi kế bên tôi, tên là Đinh Quốc Cường em của chị Dung.
Cậu em út của Cường là Tuấn lúc ấy chưa đi học. Chị Dung chơi với chị
Nam của tôi và chị Tăng Thị Thiết con bác Vui Vui. Cậu bé ấy thật dể
thương, hay cho tôi mượn cục gôm hoặc đồ bào bút chì, tôi thường giúp
Cường làm bài tập, và đến giờ chơi chúng tôi chơi chung. (Anh em Cường
và Tuấn bắt đầu tập chơi tennis từ bé cùng với anh em Toàn và Thắng nhà
ở bờ sông; sau này cả Cường và Tuấn đều trở thành những cây vợt nỗi
tiếng của VN). Giờ chơi trước sân trường thầy Giáo Nhiều bầy bán đủ thứ,
từ me riêm, ốc khương, bánh tráng mắm ruốc, trái khế trái cốc thứ gì
cũng có. Thậm chí lủ con nít chúng tôi còn có thể mua "chịu" nữa! Tôi
nhớ những lần ăn kem "cà rem" chất lạnh thường buốt nhói lên tận đỉnh
đầu. Ăn đu đủ bò kho, ăn xong còn húp hết cả chất nước cay và mặn ấy thì
mới đúng điệu. Rồi lại có xe bán kẹo kéo với thớ kẹo lớn khi được kéo
ra, ở giửa có các hạt đậu phộng vừa ngọt vừa thơm. Anh bán kẹo kéo còn
kích thích chúng tôi bằng cách cho "đổ hột me", thỉnh thoãng con nít
chúng tôi có ai đổ trúng thì được anh kéo thêm gấp 2, 3 lần dài hơn (mà
thật ra thì cũng "mõng" hơn). Lũ con trai thì chơi bắn bi, đáo lạc, bắn
"bì", hoặc quăng cùi bắp. Các chị gái thì hay chơi các trò chơi mà con
trai chúng tôi không tham dự như "đánh chắc" (tung trái banh lên, rồi
chuyền xoay 1 nắm que đủa cho thật nhanh, để bắt lại quả banh kịp khi nó
rơi xuống), nhảy giây (giây được nện lại bằng nhiều sợi thung thành một
thớ thung dài), hoặc chơi búp bê, đá cầu ...Có lần hai chị em chúng tôi
dạo bộ chung, đi lên mé cầu, trông thấy chị Dung hoặc chị Thiết, chị Nam
tôi nhập bọn con gái chơi với họ, thế là tôi phải lủi thủi đi về nhà một
mình, lòng ao ước phải gì mình có một người anh để chơi chung!
Trong các hình ảnh tuổi thơ ấy có bóng dáng của chính tôi ngày đước ba
may cho 1 bộ đồ veston mà mọi người dạo ấy gọi là áo "bành tô". Súng
sính trong bộ đồ đặc biệt ấy, các chị và em nhìn tôi như thấy lạ mắt. Mẹ
tôi vừa thắt nút áo cho tôi vừa kéo vạt áo cho thẳng thóm, vưà vổ đầu
tôi và đuà mấy câu mà người dân thường hay trêu ghẹo những người mặc đồ
veston có vẻ "bảnh bao" thời đó:
Bành tô la ghì
Ăn cắp bánh mì bỏ túi bành tô
Vì nhà gần quán bác Hai Mọi nên hai gia đình thân nhau. Ngoài các món ăn
chiều hấp dẫn như bánh bèo, bánh quai vạt, mì quãng, nem nướng với các
nước chấm mặn mà đặc biệt, hoặc các món chè đậu xanh, chè chí màu bửu
(tức chè mè, màu đen), hoặc bánh bò được bán bởi các quầy gánh rong dọc
theo phố chánh, chị em chúng tôi chiều chiều hay qua nhà bác Hai mua chỉ
hai đồng "xí quách" mà đựng đầy cả một tô lớn về ăn chấm nước mắm, vừa
ngon miệng vừa rẽ. Một buổi nọ, tôi sang mua 2 đồng xí quách như thường
lệ, nhưng vì không tìm thấy 1 tô lớn nào trong nhà cả, tôi bèn mang đại
1 chiếc soong theo để đựng. Trông thấy chiếc soong khá lớn bác gái má
anh Huệ (bác Hai Mọi) vừa cười hỏi tôi: "Thằng Tám con anh Sinh đó hả...
Nhà con cái soong nào lớn hơn cái đó nữa không con?..." Vì bẻn lẻn từ đó
về sau tôi không bao giờ giám mang soong chảo đi mua "2 đồng xí quách"
nhà Bác Hai nữa cả. Rồi có một một tai nạn hi hửu mà tôi nhớ mãi. Dạo
tôi lên chừng 6 tuổi, một hôm khi đang chơi bắn bi cùng lủ trẻ tại bải
đậu xe trước nhà, ngay lúc tôi đang lui cui chăm chú bắn bi vào lổ bỗng
nhiên tôi thấy mé trên đầu có chất gì nóng như nhớt nhỏ giọt xuống đầu
tôi. Nghoảnh đầu lên nhìn thì lủ trẻ đã bỏ chạy đi đâu hết cả chỉ còn
lại một mình tôi, mà lại có một chiếc xe vừa "de" vào đậu phủ ngay trên
đầu tôi, lúc tôi còn đang cúi thấp xuống cặm cui bắn bi cho vào được lổ
! Tôi đang ngạc nhiên hoảng sợ thì nghe tiếng hốt hoãng của cha tôi.
Chạy vội từ trong nhà ra đến bải đậu xe, ông la lên: "Trời ơi xe cán con
tôi rồi!..." Cha tôi vừa cầu cứu vừa cố gắng dở hỏng chiếc xe lên (nhưng
không dở nỗi vì xe quá nặng). Khi tôi lòm còm bò ra khỏi gầm xe, cả ba
tôi và người chủ chiếc xe đều mừng rỡ, ôm chầm lấy tôi . Dù tôi không bị
hề hấn gì, ngày hôm sau ông chủ chiếc xe hơi ấy có ghé lại thăm gia đình
tôi. Ông tặng 1 bó hoa và ngỏ lời xin lổi về "tai nạn". Ông chủ chiếc xe
ấy là 1 du khách ăn mặc sang trọng và dáng dấp thanh tao. Cha mẹ tôi cãm
tạ về mỹ ý của ông với tai nạn thật là hi hửu đó. Hành động tặng hoa đó
cũng thật là khác biệt đối với lối cư xử thường nhật khiến tôi không thể
nào quên.
Các hình ảnh thời niên thiếu ấy có thể biểu tượng bằng 1 tấm hình thời
bé mà tôi rất thương, dầu hình ấy đã thất lạc từ dạo tôi xa quê vào Sai
Gòn học. Ngày tôi lên mười tuổi, học sinh lớp Nhất phải đi chụp hình để
chuẩn bị đi thi Tiểu Học. Một hôm tình cờ đi qua tiệm chụp hình Liên Hoa
chợt thấy tiệm treo 1 tấm hình khá lớn của 1 cậu bé. Nhìn kỹ té ra là
hình của chính mình với áo sơ mi trắng, tóc chải dợn sóng, với nụ cười
nhẹ nhàng xinh xắn. Tấm hình ấy sau khi thất lạc tôi vẫn ước mơ có dịp
nào ngắm lại các bóng hình của thời bé bõng xa xưa... Ngày tôi thi đậu
bằng Tiểu Học, chị Nam mang về 1 món quà, bảo rằng do chị Tăng Thị Thiết
(tức chị Cà Sáu) con bác Vui Vui, bạn chơi thân của chi Nam tôi,gửi tặng
tôi. Món quà đó là một con thỏ đồ chơi màu trắng, đằng sau lưng thỏ có
gắn 1 chìa khoá lớn dùng để căng giây thiều. Khi quay giây thiều xong,
thả xuống, con thỏ trắng "tự động" ấy nhảy lốp cốp khắp nơi thật vui
mắt. Đấy là một món quà bất ngờ và đặc biệt. Bẳng về sau này, ngày nghe
tin chị Thiết qua đời khi tuổi đời cuả chị còn rất trẻ, tôi liên tưởng
món quà chị cho tôi, và cãm thấy một phần nào quãng ngày thơ ngây thân
thương vừa mới mất...Cùng với chuyến dọn đi đến khu nhà mới xây trước ấp
Đức Nghiả, giữa các thay đổi với trường mới, bạn mới, lòng non dại của
cậu bé trong tôi vẫn nghĩ và nhớ nhiều về Cường, cậu học trò nhỏ bé cạnh
tôi một thuở mài đũng quần trường thầy Giáo Thẹo... Hình như ai đã cắt
mất nơi tôi một phần gì thân thương âu yếm và hồn nhiên nhất...
Những ngày mới lớn xa quê vào học Sài Gòn, giữa những chiều nắng vàng
bên phố Lê Lợi nhộn nhịp của chốn phồn hoa đô hội, hay những tối từ căn
lầu nhà Dì Hai nhìn xuống con đường Lê Văn Duyệt (bây giờ mang tên Cách
Mạng Tháng Tám) với ngựa xe trẩy hội náo nhiệt mé dưới... Tôi chợt nhớ
về quê hương Phan Thiết với những cột đèn đường bình dị có quầy bánh căn
và thấp thoáng đâu đó hình ảnh tiếng cười vui của các chị em tôi đang
quây quần bên lò bánh, gắp từng miếng bánh căn dòn vừa được cậy khỏi
khuôn trộn vào với nước mắm, các tốp mỡ, và các thứa cá Nục kho... nhớ
quê ngoại, mé xa bên kia đường đối diện khu trường Phan Bội Châu nằm sâu
trong vùng ngoại ô, với bóng mát chiều tỉnh lặng khoan thai êm ả lúc
khói nhà ai đang nấu cơm và tiếng gọi lanh lảnh xa xăm từ trong xóm "Cu
ơi ...về ăn cơm" ...nhớ tiếng ru con của ai đó xen lẩn giữa tiếng võng
đưa kẽo kẹt giữa trưa hè "Ầu ơ... bầu ơi thương lấy bí cùng"... nhớ cảnh
đồng ruộng, xanh thật là xanh, màu mạ mới cắt... và nhớ hương đồng gió
nội yêu dấu của quê hương... nước mắt kẽ tha hương chợt rưng tròng...
Bây giờ, sau những cuộc đổi dời, sau những chuyến vượt đại dương, qua
bao nhiêu bến bờ, qua bao nhiêu không gian, qua bao nhiêu mảnh đời, các
hình ảnh thơ dại xưa vẫn còn lưu lại tiềm tàng trong ký ức. MTGPMN đã
được cho ra đời để khởi đầu chinh chiến, rồi lại bị khai tử vào bóng
tối, sau khi Miền Nam VN đã mất vào tay CS Bắc Việt. Nhiều trẻ tí hon
cùng học chung trường thầy Giáo Nhiều ngày xưa giờ đã ra người thiên cổ.
Có kẽ tha hương đang tìm kiếm trong sương mù ký ức một quãng đời hơn 40
năm xưa, như đang kiếm tìm lại những viên lưu ly trân quý. Mỗi khi chị
em chúng tôi gặp lại nhau, nghe lại giọng ca của chị Nam "Mưa rơi hoa lá
tơi bời, đàn ai vọng đến một chiều gió mưa ..." của một bài ca mà chúng
tôi đều ưa thích; hoặc lời ca "Ta đến đây để xin lệnh phụ vương..." do
chị Anh ca; hoặc giọng em Hà ngâm lời thơ "Từ buồn chị chọn em làm tri
kỹ, Để đêm về gục mặt kể em nghe..." cuả chị Nam làm tặng em Hà, các ấn
tượng và cãm giác xa xưa vẫn còn sẵn sàng để cuồn cuộn trôi về trong tôi
như thác lũ - từ những nguồn sông của quê hương xa thẳm...Lủ trẻ con xưa
đã từng Học Tập, nay vẫn còn ngóng tìm qua hàng rào ngăn cách của lý
tưỡng ý thức hệ, mãnh quê hương bình dị thân yêu xưa, với ước mong sẽ
làm được một điều nhỏ nhoi nào đó có thể gọi là Giúp Đời...
Cát Biển
|