|
Tương tư
"Mối tình đầu thật đáng nhớ,
tuy mang chút thơ ngây, khờ dại".
G. Bernard Shaw
Năm tôi học lớp đệ tam, tức lớp 10 sau này, là năm mà tôi thật sự bước
vào lứa tuổi mộng mơ thật nhiều, và cái tuổi 16 biết yêu như một nhạc
phẩm trứ danh của Phượng Linh: "Khi đã yêu thì mơ mộng nhiều". Từ ngàn
xưa đến ngàn sau, chủ đề "Yêu" vẫn là một đề tài muôn thưở làm cho bao
con tim say đắm ngất ngây vì men yêu thương, làm tốn hao không biết bao
nhiêu bút giấy để ca ngợi tình yêu, là cái đề tài không bao giờ lỗi thời
và sẽ không bao giờ phai nhạt trong văn học. Chính vì "Yêu" nên đã sinh
ra những nhân tài lỗi lạc từ nghệ thuật đến văn học, từ Beethoven đến
Hàn Mặc Tử, từ Âu sang Á, từ cổ chí kim, từ già đến trẻ. Do đó "Yêu" là
một quyền đặc miễn bởi thiên nhiên.
Dĩ nhiên khi yêu thì phải có đối tượng. Ðối tượng của tôi ở tuổi 16 là
một cô bắc kỳ nho nhỏ, tuổi 15, giọng nói mang nhiều âm hưởng nhẹ nhàng
của Hà Nội. Nàng không có mái tóc demi-garcon như nhạc của Phạm Duy mô
tả, nhưng thay vào đó là mái tóc xõa bồng bềnh, thoạt trông giống như cô
ca sĩ khả ái Thanh Lan lần đầu tiên lên sân khấu. Nàng tên là Mỹ Hạnh.
Nhưng thông thường tôi có thói quen chỉ gọi là "Hạnh". Tôi quen nàng khi
nàng học thêm lớp toán lý hóa tại trường tư thục Thăng Long vào buổi
chiều. Trường Thăng Long nằm ở cuối đường Hồng Thập Tự và gần quảng
trường Cộng Hòa có trường đại học Khoa Học và trường trung học Petrus
Ký. Tôi mang phù hiệu của trường Petrus Ký, còn nàng là học sinh của
trường Nguyễn Bá Tòng trên đường Bùi Thị Xuân. Vì tương đối khá và có
khiếu về các môn lượng giác, hình học và đại số nên tôi thường cố vấn
cho Hạnh những bài toán hóc búa mà thầy Vũ Bảo Ấu cho bài tập mang về
nhà làm. Do vậy tình bạn giữa tôi và Hạnh đã sinh sôi nẩy nở mau chóng
qua các bài vở học chung. Chúng tôi rất thân thiết và khắng khít thêm
theo thời gian đầu ở Thăng Long. Trong lớp dạy kèm này có khoảng một
phần ba là nữ sinh, phần còn lại toàn là dân đầu húi của chúng tôi. Một
thiếu nữ bắc kỳ ở tuổi vừa lớn thật là tuyệt vời trong ánh mằt của tôi.
Cũng vì vậy mà đóa hoa hồng này là cái mầm cho những sự xung khắc giữa
các nam sinh trong lớp học. Cũng vì Hạnh mà tôi và các bạn Petrus Ký đã
tả xung hữu đột với nhóm Chu Văn An. Sự ganh đua tên tuổi giữa hai
trường trung học lớn của miền nam Việt Nam là Petrus Ký và Chu Văn An có
lúc đưa tới sự xung đột toàn diện mà hai ban giám học nhà trường phải
báo động, vì bên này đem quân sang vây hãm, lấn át bên kia. Có một dạo
báo chí Sài-Gòn đã chạy tít lớn về những sự xô xát này. Học trò nam của
hai trường lớn này nhiều khi va chạm chỉ vì Trưng Vương hoặc vì Gia
Long. Trong trường hợp cá biệt của lớp học chúng tôi sự va chạm lại do
bông hồng của Nguyễn Bá Tòng.
Trong lớp tôi có một nam sinh tên Chương, khôi ngô tuấn tú, học Chu Văn
An, rất xuất sắc về hai môn vật lý và hóa học, là những môn do thầy Phạm
Huy Ngà phụ trách. Có một hôm sau giờ tan học về, tôi mục kích thấy Hạnh
và Chương ngồi lại lớp học chung với nhau ở lầu hai. Những hình ảnh này
là những cảnh tượng mà tôi đã không thể chấp nhận khi tim tôi đau nhói
vì ganh tị, và cơn nóng giận đại hồng thủy sôi sục trong người tôi dâng
lên tức tối. Chính chỗ ngồi của tôi hôm nào mà Chương đã ngang nhiên
choán lấy. Hậu quả là ngày hôm sau tôi canh giờ Chương đến trường, tôi
đã đổ dồn cơn đại hồng thủy vào Chương, đánh cho Chương một trận đòn trả
thù, song song với sự hiệp lực của các bạn Petrus Ký. Chương rất cay cú
tôi vụ này. Riêng Hạnh, nàng đã tức giận tôi vì cho rằng tôi đã quá
đáng. Hạnh cố tình xa lánh tôi, nàng không muốn gặp gỡ hay liên lạc gì
với tôi nữa.
Cả mấy tuần lễ thiếu vắng Hạnh, con người tôi héo hon vì rối trí, bấn
loạn tinh thần, biếng ăn và mất ngủ. Mẹ tôi nhìn đứa con trai cưng của
bà xuống sắc, xanh xao và phờ phạc. Bà rất lo lắng và tra hỏi tôi lý do
vì sao. Tôi đã phải nói dối bà là chỉ vì tôi thức khuya học bài vì nhà
trường cho bài vở dồn dập làm mãi không hết. Vả lại năm tới lên lớp đệ
nhị thi tú tài mà không học bây giờ thì sẽ trễ hết. Thế là bà cụ tin và
cho là tôi hiếu học và đã lo quá đỗi. Bà chạy đôn chạy đáo vào tiệm
thuốc tây hỏi mua thuốc bổ vitamines, rồi hốt những thang thuốc bắc thập
đại bổ và thường xuyên nấu những loại súp hảo hạng để tẩm bổ tôi có sức
mà học tiếp. Ðèn phòng ngủ tôi lúc nào cũng để sáng trưng đến đêm khuya,
và bài học thì bày biện ngổn ngang chen lẫn với sách vở. Nhưng thực sự
thì thời giờ của tôi đã để dành suy tư về Hạnh, để viết thư tình minh
oan, và để chiêm ngưỡng bức ảnh mà Hạnh đã cho tôi. Tôi gửi thư đi cho
Hạnh, thư gửi đi mà chẳng thấy cánh nhạn hồi âm. Bạn bè tôi đến nhà thăm
cho biết dạo này Hạnh và Chương càng thân hơn, họ đi ciné với nhau nữa.
Những tin tức "sét đánh" dồn dập như thế chỉ mang đến cho tôi những thất
vọng, những buồn khổ thêm vì cô bắc kỳ nho nhỏ đã không còn đóai hoài gì
đến tôi nữa. Tôi đã bỏ học, bỏ trường Thăng Long hơn một tháng trời mà
chỉ lang thang, giết thì giờ trong Thảo Cầm Viên Sở Thú hay trong công
viên Tao Ðàn, thay vì ở nhà thì mẹ tôi biết. Tôi không mảy may muốn vào
lớp học để chứng kiến những cảnh ngộ ngang trái, chướng mắt mình vì Hạnh
đã gây ra cho tôi. Tuy vậy những hình ảnh của Hạnh vẫn là một hấp lực vô
biên ám ảnh trong tâm trí của tôi.
Rồi một hôm thầy giám thị trường Petrus Ký nhắn cha tôi vào gặp ông ở
trường. Thầy với cha tôi vốn là những hội viên chính trong hội Ðồng
Hương Tây Ninh nên họ có những mối thâm tình với nhau. Thầy cho cha tôi
biết là sức học của tôi đã sút giảm lạ thường. Ông nêu ra vấn đề là nếu
không sửa đổi lại có thể tôi bị ở lại lớp. Mà sang năm thì tôi phải thi
tú tài phần một, sau đó lớp đệ nhất thi phần hai và rồi thi tuyển vào
các đại học nữa. Ðoạn đường còn dài đăng đẳng. Cha tôi rất ưu tư và ông
hạch hỏi tôi đủ điều vì ông sợ tôi rong chơi với bạn bè và lười biếng bỏ
học ngang. Thầy giám thị cho cha tôi biết là tôi vẫn hiện diện đầy đủ
các giờ học, nhưng các thầy cô thì phê bình tôi là sao lãng việc học
hành, bỏ bài nộp thường xuyên, và vào lớp học thì tâm trí gởi ở một
phương trời nào đó, cái mà các thầy cô gọi là "hay lo ra", không tập
trung, chú ý đến bài vở. Tôi phải vào trường học bù vào những ngày cuối
tuần. Trường Petrus Ký vốn có truyền thống rất khó khăn, gắt gao về việc
học hành, kỷ luật nhà trường rất nghiêm minh, khắt khe đối với những
phần tử lười học. Do đó mà sỉ số đỗ đạt tú tài của trường năm nào cũng
có thành tích rất cao và sáng chói.
Trong khi cha tôi thường la rầy tôi, ông giảng "moral" ngày đêm về tầm
quan trọng của việc học hành đối với tương lai của tôi thì ngược lại mẹ
tôi vốn là một bậc hiền mẫu lo lắng sức khỏe cho con, bà khuyên cha tôi
hãy nhẹ tay với tôi. Bà viện dẫn lý do tôi bị xanh xao, sa sút là vì
thức khuya nên mất hồng huyết cầu, đuối sức là vì học nhiều quá nên sức
khỏe kém, nên ảnh hưởng đến tình trạng học hành nói chung. Bà còn khuyên
nhủ cha tôi hãy để tôi từ từ khôi phục lại sức khỏe trong khi bà lo lắng
bồi bổ cho tôi. Trong những giờ phút lâm nguy như vậy, những bức thư
tình viết rồi mà chưa gởi đi thì dược dấu kín kỹ lưỡng. Cha tôi mà biết
dược những lá thư tình ngây ngô của tôi như đứa con thất tình vì gái và
hay lo ra, biếng học như dưới đây chắc là tôi sẽ bị trừng phạt đích
đáng:
"Hạnh ơi,
Hôm nay tan trường Petrus Ký về, Tâm không đi đường Hồng Thập Tự ngang
qua trường Thăng Long nữa chỉ vì sợ thấy bóng dáng của Hạnh ngồi với
người nào đó ở lầu hai. Tâm có ý định bỏ trường luôn và bây giờ thì bài
vở của thầy Ấu và thầy Ngà nhiều lắm rồi phải không? Hạnh biết không,
tấm hình duy nhất mà Hạnh cho Tâm chụp trước cửa nhà thờ Huyện Sĩ vẫn
được Tâm giữ lấy trang trọng, nó ngự trị ngay trang đầu của quyển sách
đại số mà thầy Ấu dạy? Lý ra Nguyễn Bá Tòng gần với Petrus Ký hơn là Chu
Văn An, nhưng Hạnh đã quyết định chọn một con đường chông gai hơn và đi
xa hơn. Lá thơ này gởi Hạnh có thể nó sẽ không làm Hạnh thay đổi ý kiến.
Nhưng Tâm vẫn mong Hạnh sẽ suy nghĩ lại đi và một lúc nào đó... có thể
làm Hạnh thay đổi. Rất mong như vậy. Tâm"
Hạnh vẫn im lìm không trả lới thư tôi. Những ngày cuối tuần tiếp tục
buồn bã và đầy thất vọng. Tôi thấy mình cô đơn, rồi cuộn mình trong
chăn, lẩn trốn trong phòng riêng, thỉnh thoảng nhìn lại sách toán có bức
hình của Hạnh. Ðây là những giờ phút tôi đã thật sự tương tư và để trọn
ý nghĩ tuyệt đối mộng mơ, lưu luyến và nhớ nhung về Hạnh, cô bắc kỳ nho
nhỏ đã làm cuộc đời tôi khổ sở. Tôi nhìn hình nàng, nhìn mãi mà không
chán, Hạnh có gương mặt bầu bĩnh và hai chiếc răng khểnh xinh xinh.
Những giờ phút thiêng liêng này chỉ có tôi và cô bắc kỳ nho nhỏ mà thôi.
Một hôm tan học, tôi đạp xe từ Petrus Ký về ngang qua nhà thờ Huyện Sĩ
trên đường Phạm Ngũ Lão, tôi bỗng tự dưng đổi hướng quẹo vào đường Bùi
Thị Xuân thay vì đi thẳng luôn về nhà như mọi lần. Tình cờ tôi thấy Hạnh
tan học ra, tay ôm sách trước ngực và đang đi trên vỉa hè. Lòng tôi xao
xuyến vô cùng đạp xe lang thang theo sau. Tôi tìm cách gợi chuyện. Hạnh
vẫn không nhìn tôi, và không trả lời những câu hỏi thăm của tôi. Tôi
tiếp tục kiên nhẫn hỏi han tiếp và khai khẩu nàng. Tôi nhìn đôi mắt Hạnh
bỗng long lanh, rơm rớm nước mắt và hình như sắp khóc. Tim tôi đập mạnh,
tôi vội vàng xin lỗi vì tôi tưởng những lời hỏi han vô tình của mình đã
làm nàng phật ý và xúc phạm đến nàng, và làm cho nàng buồn.
Nhưng không phải vậy. Cái quyết định tình cờ quẹo vào đường Bùi Thị Xuân
lúc nãy là một quyết định khôn ngoan và đầy may mắn. Ðây là sự may mắn
trong những sự may mắn nhất và vô cùng, vô cùng có lý. Như nhà văn Duyên
Anh thường bảo trong sách vở của ông là: "Mèo mù vớ cá rán". Nàng đã
thật sự khóc và tâm sự với tôi là Chương đã không còn lui tới với nàng
nữa. Chương đã có cô bạn mới học Trưng Vương, và từ đó Hạnh cảm thấy cô
đơn muốn gặp tôi trở lại, nhưng tôi đã nghỉ học ở Thăng Long. Tôi cười
thầm trong bụng và nhớ thêm hai câu nói dí dỏm của nhà văn Duyên Anh là:
"Lù khù có con cừu độ mạng" hay "Trời đãi những kẻ khù khờ". Thật sự là
vậy.
Trong lúc mải mê chuyện trò thì trước mặt chúng tôi là cửa chính của
giáo đường Huyện Sĩ, Hạnh hỏi tôi muốn theo nàng vào nhà thờ cầu xin
Chúa không. Tôi bảo nàng tôi là người ngoại đạo. Hạnh nhìn gương mặt
xanh xao, hốc hác đến độ tội nghiệp của tôi, nàng trấn an và bảo tôi
theo nàng vào cầu xin với Chúa. Tôi đi theo nàng hướng về phía trước bục
giảng. Ðây là giáo đường Thiên Chúa mà lần đầu tiên tôi vào một nhà thờ
lớn như vậy, khung cảnh trang nghiêm và có lối kiến trúc tây phương cổ
kính. Tôi cảm thấy có một cái gì thiêng liêng đang len lỏi, xâm nhập vào
tâm hồn của mình. Hạnh cúi quỳ xuống ở hàng ghế thứ hai bên phải. Ngó
xung quanh khung cảnh thiêng liêng này chỉ có hai đứa chúng tôi. Tôi bắt
chước Hạnh quỳ xuống bên cạnh nàng. Trong bầu không khí trang nghiêm và
yên lặng, nàng nhắm mắt cầu xin những điều gì tôi không được rõ. Phần
tôi thì chỉ nhìn quanh quẩn, dáo dác vì sự hiếu kỳ nhiều hơn. Cuối cùng
nàng làm dấu thánh giá và tôi thoảng nghe hai tiếng "Amen". Sau đó hai
đứa tôi bước ra ngoài khuuôn viên nhà thờ, vừa đi bộ tôi vừa hỏi Hạnh là
nàng đã cầu xin những gì. Nàng cười một cách bí mật và rồi lại bật mí là
nàng đã cầu nguyện ba điều là:
1) Xin Chúa cho tôi được bình yên và khỏe mạnh, hết bệnh.
2) Xin Chúa cho tình bạn chúng tôi trở lại như xưa.
3) Xin Chúa cho hai đứa chúng tôi sẽ học thật giỏi để thi đỗ hai kỳ tú
tài.
Ðiều cầu xin Chúa quả thật là một phép lạ nhiệm màu, huyền diệu, và điều
này đã đem tâm hồn tôi bừng tỉnh sống lại hăng hái hơn, lên tinh thần
thêm khi nhìn về những ngày phía trước mặt. Ngày hôm sau tôi trở lại
trường Thăng Long. Bạn bè trong lớp hỏi thăm lý do vì sao tôi đã vắng
mặt khá lâu rồi. Tôi ngượng ngùng nại cớ giải bày vì đau ốm, và hôm nay
đã khỏe lại nên trở lại lớp học. Quả thật tôi đã bị một chứng bệnh nan y
về tâm lý mà cha mẹ tôi đã không thể chữa cho tôi bằng thuốc vitamines
hay thuốc bắc và những chén súp bồi bổ, mà toa thuốc huyền diệu đó phải
được Hạnh ra toa để chóng phục hồi lại nguồn sinh lực cho tôi. Cái bệnh
của tôi là căn bệnh trầm kha mà thi sĩ Nguyễn Bính đã chẩn mạch không
sai tí nào qua những lời thơ vô cùng thấm thía của ông đối với những cây
si ở giáo đường Huyện Sĩ như tôi:
"Nắng mưa là bệnh của trời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng."
Chính nhờ vào liều thuốc bổ huyền diệu của Mỹ Hạnh cho tôi từ cái bầu
không khí trang nghiêm của giáo đường Huyện Sĩ mà những năm sau đó cả
hai đứa chúng tôi đã thi đỗ cả hai kỳ thi tú tài rất vinh dự mà điểm số
của cả hai được ưu hạng. Những dòng ghi nhận này để cám ơn cô bắc kỳ nho
nhỏ Mỹ Hạnh đã là một phần trong khối trí nhớ tuyệt vời của tôi vì những
lời cầu xin nhiệm màu ở giáo đường Huyện Sĩ khi xưa. Amen!
Việt Hải, Los Angeles
(Gửi Mỹ Hạnh, Laguna Hills)
* Cô Bắc Kỳ dễ thương:
http://www.lmst4.com/music/?532
(Nhạc LMST, Thơ Nguyễn Vạn Thắng)
Việt Hải
|