|
Thái Tú Hạp: Hạt Bụi Nào Bay Qua
Thái Tú Hạp là một khuôn mặt
văn học nổi bật từ trong xứ trước năm 75, rồi sang Hoa Kỳ, anh tiếp tục
làm thơ và vào ngành làm báo tại miền Nam Cali. Tôi gặp anh vài lần
trong các sinh hoạt văn học tại vùng Little Saigon.
Hôm nọ tôi nhận được thi phẩm "Hạt Bụi Nào Bay Qua" của anh do nhà văn
Dương Viết Điền cho tôi xem để tìm hiểu về thơ Thái Tú Hạp (TTH). Đây là
một tuyển tập thơ gồm 90 bài thơ gồm các đề tài chính là quê hương, đời
lính, tù đày, tình yêu, gia đình và thiền hay tôn giáo. Trước 75 anh là
một quân nhân nên sau khi mất miền Nam anh bị đi tù. Sau đó anh dẫn gia
đình vượt biên.
Hạt Bụi Nào Bay Qua cũng là tựa đề một bài thơ của anh, in làm bốn
trang, nên bài khá dài. Anh viết bài này khi bị giam tại trại Kỳ Sơn,
Quảng Nam, năm 1978 như sau:
"Sáng ta thức dậy thấy nháy hoài con mắt trái
Chắc có niềm vui vừa đậu trên mi?
...
Nòi giang hồ bỗng chạnh nhớ thương quê
Dấu ngựa lăng quên con đường xưa trở lại
Lau thời gian phủ kín lối về"
Thơ TTH mang nỗi bi ai và ngậm ngùi:
"Trên những sợi bạc trắng mây trời
Nắm cơm khoai hòa trong nước mắt
Nuốt từng hạt đắng cay
Lặng thầm tủi nhục
Mà em đâu có hay!
Như ánh nắng chiều trên hàng mộ bia
Bạn bè ta ngậm ngùi thương tiếc"
Tiếng lòng của người tù như lời uất nghẹn giữa chốn rừng sâu, núi thẳm:
"Hạnh phúc nào chẳng xót xa
Tự do nào không khơi máu thắm
Không uất nghẹn lời căm
Không nuôi thù chất ngất!"
Kẻ chiến thắng anh chỉ đem lại tan thương chua xót và hận thù chồng chất
trên xứ sở của dâu biển khổ đau. Do đó hạt bụi nào bay qua chỉ là kiếp
nhân sinh buồn bã như bụi trần gian hiu hắt đang trôi ngang tiềm thức
của thi nhân:
"Đất nước hôm nay
Hòa bình có thật?
Nhưng giấc mơ xưa đã tắt lịm rồi em
Như tiếng hót sớm mai này
Của loài chim hoang về đậu trên cành sầu đông rã mục
Tưởng như có niềm vui
Nhưng không phải đâu em
Chỉ là hạt bụi vu vơ
...
Đời hiu hắt đang chờ đợi ta thức dậy
Còn đâu em
Một tiếc nuối qua mau..."
Tôi đọc tiếp lời người lính trong âm thầm lặng lẽ, chuốc lấy đau thương
cho lý tưởng mình phục vụ. Tôi nghe tiếng hót cô liêu của loài chim đỗ
quyên từ ghềng núi xa xa, chim hót nhớ nhà vang sầu vọng lại, TTH trong
bài "Tiếng Chim Trong Ghềng Núi":
"Rừng sương trắng bủa vây
Nuốt mặt trời buổi sang
Toán tù binh đốn cây
Lạnh lùng như chiếc bóng
Trong khu vườn mùa xuân
Người lính xưa lặng lẽ
Hai một đóa mai vàng
Lòng nghe sầu xa vắng"
Thơ TTH phảng phất nét nhẹ nhàng, thơ diễn tả thiên nhiên mà lòng nghe
sầu dâng chất ngất, ta hãy nghe bài "Chim Bỏ Đồi Mây":
"Hoàng hôn bên kia đồi
Bóng mây vừa tiễn biệt
Bao nhiêu năm cuộc đời
Vui buồn em có biết
Lá thông xanh reo hoài
Có nghe sầu chất ngất
Lợi danh rồi cũng phai
Trong nắng tàn lạnh khuất"
Trong bài "Trong Vườn Xuân Hạnh Ngộ" tâm tình của TTH dâng lên nhè nhẹ
theo hương xuân về man mác, dù trong chốn lưu đày, hồn thi nhân vẫn mang
theo để sưởi ấm men tình hạnh ngộ:
"... Còn đâu hương tóc em
Hoàng lan nô nức nhớ
Phố cũ chiều lang thang
Đường rêu hoen lệ nhỏ
...
Núi non vây trùng điệp
Một mình em xót xa
Hoàng lan xưa vẫn nở
Trên từng nhánh thơ ta!"
TTH là người của phố cổ Hội An. Anh làm bài lục bát về người tình trong
tà a’o lụa Hội An thuở nào của quê hương mến yêu. Hãy nghe bài "Ngọn
Quế: Viễn Phương":
"Ra vườn hái ngọn quế thơm
Nghe lòng nhớ mẹ chiều hôm cuối ngàn
Gió lay ngọn cải hoa vàng
Tưởng em áo lụa Hội An thuở nào
Trăm nghìn phố lạc hướng sao
Hỏi ra cố quận chiêm bao lối về
Đời như huyễn hoặc cơn mê
Quế thơm hồn giữ tình quê thắm nồng"
Thơ quê hương của TTH chất chứa nhiều kỷ niệm của vùng đất Quảng Nam,
nơi có chùa Phước Kiến, có Cửa Đại, có sông Thu Bồn, có phố Hội An, có
Khổng Miếu, có núi Non Nước, có động Huyền Không,... và có cả bầu trời
thơ mộng của TTH. Đôi dòng trích dẫn từ bài "Tôi Sẽ Về Thăm Quảng Nam":
“Mai tôi sẽ về Việt Nam thăm xứ Quảng
Đồng Phú Chiêm vàng lúa tháng ba
Chuông Phước Kiến khua chiều tĩnh mặc
Mẹ tôi sầu bên mái phố sương khuya"
Không có nơi nào đẹp bằng quê hương vì quê hương vốn ngự trị trong tâm
hồn ta từ tấm bé. TTH dẫn ta về thăm quê hương anh:
"Dẫu ngàn thu ánh trăng soi Phố Hội
Khổng Miếu còn thanh thoát nét Đường Thi?
Núi Non Nước – Động Huyền Không khói quyện
Miền quê hương có Ngũ Phụng Tề Phi"
Thơ TTH vẫn mặn nồng vói đất Thần Kinh. Thơ TTH dẫn ta di chu du danh
lam thắng cảnh của kinh đô triều Nguyễn:
"Em ở đó quạnh hiu tình Vỹ Dạ
Người đi rồi trời Huế lạnh mưa đông
Tiếng chuông khua trên đỉnh đồi Thiên Mụ
Chiều ghe sầu phủ kín cả dương gian"
Nhà thơ nhắc nhở cố đô Huế trong thơ mộng, nơi có vườn Thượng Uyển em đi
qua lối nhỏ, có dốc Nam Giao nhớ bóng em gầy guộc:
"Em Thượng Uyển ghé về qua lối nhỏ
Rêu trên thành tháp cũ có tương tư
Chiều Nam Giao bóng em gầy hiu hắt
Thần Kinh ơi, thơ mộng đã xa mù"
TTH như những thi sĩ mang con tim yêu quê hương, yêu gia đình, và yêu
thi ca, ba thứ này trộn lẫn hòa trong lời thơ của anh, thơ anh dành cho
hai con trai Huy Đức và Huy Dũng với một nỗi lòng của tình cha trong
nhung nhớ tình tự quê hương trong bài "Ta Thấy Ta Về Quê Hương":
"Con sẽ lớn lên giữa đồng quê Texas
Một thành phố ở Cali
Hay một nơi nào đó ở Hoa Kỳ
... Con sẽ đến trường
Trước những đôi mắt ngỡ ngàng xa lạ
Ta chắc rồi con sẽ buồn
Vì con chỉ là đứa bé lạc loài thơ dại
Tên con thầy giáo gọi Việt Nam"
Ngoài ra TTH cũng làm bài thơ cho cô con gái tên Cynthia nhân ngày cháu
chào đời đúng vào đêm Noel 1985 tại Garfield Medical Center, thuộc thành
phố Monterey Park. Bài thơ mang tên "Hạnh Phúc Đời Ban Cho":
"Ru tiếng khóc đầu tiên bé bỏng
Nụ cười từ ái quanh nôi
Trong mỗi trái tim như có mùa xuân
Tiếng reo chim hót
...
Con sẽ lớn lên
Giữa trời xanh sao trắng"
Nếu vũ trụ đang an vui tận hưởng giờ thiêng liêng của Chúa Hài đồng chào
đời thì TTH cũng được đời ban cho hạnh phúc với người con gái mà anh đề
tặng bài thơ này. Nỗi lòng trân quý của anh luôn luôn nhắc nhỡ quê hương
mình là Việt Nam, và đó là điều rất gần gủi như tương đồng trong cảm
nghĩ của riêng tôi. Viết cho gia đình, viết cho con cái là nỗi hạnh phúc
chứa chan trong tâm hồn:
"Vũ trụ không còn xa thẳm con mơ
Nhưng có điều ta chắc trọn đời con suy ngẫm
Về màu da về đất nước quê hương
Và cho dù tên con Cynthia
Hay gì đi nữa
Con vẫn là cô gái Việt Nam"
Sau khi đọc những bài thơ anh làm cho con xong, thì tôi gặp bài "Mùa
Xuân Yêu Em" mà anh viết tặng cho chị Ái Cầm, tức hiền thê của anh. Đây
là một bài lục bát, thơ chất chứa tình yêu, kỷ niệm và cuộc dời. Mùa
xuân nào anh chị gặp nhau tại xứ Quảng để rồi duyên nợ có nhau:
"Mùa xuân từ thuở yêu em
Núi non xứ Quảng cũng mềm bước đi
Hàng cây nẩy lộc thầm thì
Nghe như giòng suối từ bi cội nguồn"
Rồi những mùa xuân của quê hương chinh chiến, mùa xuân vượt biên tại hải
đảo và mùa xuân hoa nở bình yên trên xứ người cho duyên tươi thắm cho
tình nồng bên nhau:
"... Trùng dương u thảm phận người
Quẩn quanh hải đảo tiếng cười đắng cay
Xa rồi thác lũ trời tây
Đời hư ảo thoáng chim bay cuối ngàn
Đất trời thơm ngát lộc non
Cho ta xuân thăm vô vàn yêu em"
Trong thơ TTH tôi tìm thấy chất thiền bàng bạc, những từ ngữ trong triết
lý Phật giáo nhiều lai láng. Tôi đọc thơ "Yêu Em Vô Lượng":
"Em có mang về dòng sông tịnh khúc
Mà ta nghe vàng nắng đọng am mây
Gió thổi đầu non cơn sầu chín mũn
Tháp chuông khua động dạ từ bi..."
Em tươi thắm như nụ hoa vàng, em tươi cười như sương mai lá biếc, ta có
em trong tận cùng yêu thương sầu khổ, ta yêu em vô lượng, xa hơn biên
giới của càn khôn:
"Từ đó ta có em trong tận cùng đất khổ
Nhất nguyên này đẹp vô lượng tình yêu
Hài hòa thánh thiện
Ta không còn biên giới càn khôn..."
Đời sống vốn phù du như áng mây bay, theo triết lý Phật giáo cho là vô
thường, vật chất có đó rồi mất đó. Vạn vật biến thiên theo sự đổi thay
của càn khôn vũ trụ và của luật tuần hoàn của cuộc sống. Hãy nghe TTH
bài "Vô Thường Yêu Em":
"Mắt xưa trăng đẵm non ngàn
Lời xanh biếc ngọc vô thương yêu em
Lá theo tiếp tục đường chim
Hồn mai phục giữa hoa nghiêm lặng tờ"
Trong bài "Chân Kinh", tôi cảm nhận tính chất thiền trong thơ TTH khi
anh cho là con người sống xa cách với tâm linh, xa xôi với Huệ Năng, với
đường về với chân kinh:
"Ngắm mây biền biệt xứ
Ngàn dặm xa Huệ Năng
Hành trang kinh vô tự
Lòng sao mãi băn khoăn"
Khi xã hội dù đông hay tây bao quanh bởi kiếp nhân sinh vô quán phù hư
giả tạo. Không khai ngộ chân kinh, cuộc sống vô minh mãi trầm luân trong
bể khổ, thiếu trí huệ cho nên con người chỉ quanh quẩn trong chu kỳ luân
hồi:
"Đông tây nào đốn ngộ
Người xa cách tâm linh
Đời phù hư trá ngụy
Tìm đâu thấy chân kinh"
Bài sau cùng được trích dẫn là "Luân Hồi Có Nhau", nhà thơ chia xẻ tâm
tình với người bạn đời những lời tình nghĩa và tạ ơn nồng thắm:
"Ta về tịch mặc ngàn hoa
Lá cao vút đẵm mây qua đỉnh dồi
Nhân gian dành trọng cuộc chơi
Ta cùng em hát bên đồi xuân xưa
Nhất quán rồi mộng mai sau
Tâm vô lượng mở có nhau luân hồi
Cám ơn thơ cám ơn đời
Trăm năm nhật nguyệt đầy vơi nghiã tình".
Qua những dòng đã trình bày trên, ta nhận thấy thơ TTH làm phảng phất
cuộc đời mà anh trải qua. Thơ anh thủy chung với đất nước, nhẹ nhàng cho
quê hương, dịu dàng với gia đình, và chân tình với cuộc sống. Vì văn là
người, thơ cũng là người. Đọc thơ một người để ta hiểu hơn và thông cảm
hơn cái thế giới riêng tư mà nhà thơ đã trải rộng cuộc đời mình trên
những trang giấy trắng mực đen. Và đó là Thái Tú Hạp.
Việt Hải los angeles
Việt Hải
|