|







|
|
Tây
Lai Du Ký
Dịp lễ Giáng
Sinh mừng ngày Chúa giáng sinh ra đời, là dịp lễ lớn cuối năm nhà nhà đoàn
tụ, và người người đoàn tụ để chia vui, để ăn mừng cái diễm phúc cho nhân
loại được bình yên, thái hòa, được xum hợp bên người thân. Một nhóm bạn tôi
trong chiều hướng đó đã gặp lại nhau sau hơn 45 năm ly tán vì đất nước loạn
ly, nay họ đã có cơ duyên kỳ ngộ gặp nhau lại dưới bầu trời của Nam Cali vào
cuối tháng chạp 2003.
Điểm hẹn là nhà của chị Lilly Huệ tại thành phố Huntington Beach, có những
bãi biển thật hữu tình không xa đây lắm. Tôi bước vào nhà thì gặp Thủy, con
gái chị Huệ nói mẹ và cô Chín đã ra phố mua điểm tâm cho mọi người. Tôi cùng
anh Tự, một người bạn trong nhóm họp bạn, đi ra hướng vườn sau. Nếu bên
trong nhà ấm áp nhờ cái ấm than củi của lò sưởi thì ra bên ngoài vườn tôi
cảm nhận cái không khí hơi lành lạnh của ban sáng, dù là ánh nắng đã vươn
lên từ hướng biển Pacific Coast Highway. Xen lẫn giữa tiếng chim hót ríu rít
là tiếng thì thầm hàn huyên của hai chị Mỹ Thanh và Thu Hương. Hai chị đang
viếng khu vườn sau có nhiều hoa và cây ăn trái. Chị Mỹ Thanh chìa tay giới
thiệu tôi với chị Thu Hương, tôi được biết thêm là có 6 người bạn gồm anh
Trương Minh Tự, Diệp Đường Chín, Trần Thị Huệ hay Lilly Huệ, Trần Mỹ Thanh,
Lương Thu Hương, và Đặng Phương Lan. Đây là nhóm bạn học tại tỉnh Rạch Giá
của lớp đệ thất, niên khóa 1958-59. Sự kết hợp họ từ nhiều nơi theo dòng
lịch sử. Chị Đường Chín có cha mẹ di cư sang Việt Nam khi Mao Trạch Đông
tiến chiếm Hoa lục. Chị Đặng Phương Lan thì theo gia đình di cư vào nam năm
1954 khi CS chiếm miền bắc. Tựu trung là cả đám là nạn nhân của CS. Nay họ
gặp lại nhau tại Hoa Kỳ dù là mỗi người định cư một nẻo. Chị Thu Hương tốt
nghiệp khoá QG hành chánh, sang Mỹ diện HO và định cư tại miền Thung lủng
Hoa Vàng, San José. Anh Trương Minh Tự tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế học tại
đại học UCLA và hiện làm cố vấn thương mại cho một công ty Hoa Kỳ. Chung qui
họ đến Hoa Kỳ đều thành công. Sau năm 1975, chị Đường Chín vì có gốc Hoa
kiều nên bị "trục xuất" sang định cư tại Hong Kong và sau đó di cư sang Mỹ
hành nghề tiếp ngành thầu khoán kiến trúc tại San Francisco. Chị Diệp Đường
Chín là một học giả uyên thâm viết biên khảo về tôn giáo và văn hóa. Chị
biết nhiều sinh ngữ, chị học lấy thêm nhiều bằng khác nhau từ bằng cử nhân
văn chương, bác sĩ y khoa đông y đến bằng kiến trúc, rồi bằng kỷ sư công
chánh tại UC Berkeley, ngoài văn bằng cũ là kiến trúc từ Hong Kong và
London. Thuở đi học bạn bè gọi chị là con mọt sách. Chị tu học theo giáo lý
nhà Phật và thực hành dưỡng sinh zen hoặc yoga song song với luyện tập thái
cực quyền rất thuần thục. Sau buổi điểm tâm tại nhà chị Huệ, chị Chín đề
nghị chúng tôi đi thăm ngôi chùa Tây Lai (Hsi Lai temple), vì chị chưa biết
nơi này. Với tôi, tôi đã viếng chùa Tây Lai nhiều lần, dù nó không có lịch
sử lâu đời như nhiều chùa bên Trung Quốc, nhưng tại Mỹ nó tiêu biểu phần nào
đó cho cái văn hóa và Phật giáo Trung Hoa tại Mỹ. Sáng sáng tại sân chùa Tây
Lai, người ta mục kích đoàn thanh thiếu niên luyện tập võ thiếu lâm trong
đồng phục màu đen. Từng hàng người di chuyển nhịp nhàng theo các thế võ công
phá hay tấn thủ thật ngoạn mục.
* Thiếu Lâm Tự Trung Hoa:
Nói về chùa chiềng tại lục địa Trung Quốc chị Chín khá rành, những năm chị
rời Việt Nam lưu lạc sang Hong Kong chị có nhiều dịp đi du hành thăm đó đây
từ Tây An, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Quảng Châu, Thượng Hải, Phúc Kiến,... Hai ngôi
chùa tôi nghe chị kể về lịch sử khá lý thú:
Trong các chuyện kiếm hiệp Kim Dung mà chúng ta đọc thường đề cập đến các lò
võ của môn phái Thiếu Lâm (TL). Võ TL là bộ môn thuộc loại nghệ thuật chiến
đấu (martial arts) có lịch sử lâu đời mà ngày nay khắp hoàn vũ đều biết.
Khoảng năm 495 TL tự được xây dựng bởi một vị hoà thượng gốc Ấn Độ là hoà
thượng Batuo sang hoằng dương Phật pháp tại tỉnh Hà Nam và nhờ đó TL tự ra
đời. Võ TL được hòa thượng Batuo khai nguyên những thế võ cơ bản theo lối
chiến đấu của nhiều loài cầm thú, mãi đến năm 527 thì Bồ Đề Lạt Ma
(Bodhidarma), tức Đạt Ma Sư Tổ cũng là người Ấn Độ đã khai triển môn võ TL
thêm nhiều binh pháp chiến đấu khác nhau, có chiến lược và hệ thống hơn. Từ
đó võ TL được lan truyền đến những nơi khác của Trung Hoa. Ta thấy có nhiều
môn phái khác nhau như: TL Tung Sơn (nguyên thủy Hà Nam), TL Quảng Đông
(tỉnh Quảng Châu), TL Phúc Kiến, TL Nga Mi, TL Võ Đang,... TL Võ Đang đã áp
dụng Dịch Cân Kinh do Đạt Ma Sư Tổ ghi nhận mà sau này là một trong các bài
quyền cơ bản “TL Thập Bát La Hán Thủ”. Đạt Ma Sư Tổ nhận thấy trong binh
pháp tấn công đánh địch thủ, có lúc ta nên dưỡng sức, bảo vệ sức khoẻ nhất
là phần tâm linh, nên thiền công (zen) được ngài sáng chế ra.
Đó là sơ qua về môn võ TL. Chuà chiềng tại Trung Quốc thì có vô số. Các nơi
tôi có dịp đi qua trong các chuyến du ngoạn, hành hương là các ngôi cổ tự ở
gần với núi non trùng điệp, rất nên thơ như Hàng Sơn Tự tại Tô Châu, chùa
Phổ Đà Sơn tại Thượng Hải, Nga Mi Sơn tại Tứ Xuyên, Ngũ Đài Sơn tại Sơn Tây
và Cửu Hoa Sơn tại An Huy. Ngoài ra chị Đường Chín bổ túc thêm về hai ngôi
chùa thiếu lâm đã đánh dấu sự chào đời của sự phát triển Phật giáo tại Trung
Quốc là chùa TL Hà Nam và chùa TL Phúc Kiến. TL tự Hà Nam được xây trên
triền núi cao của núi Thiếu Thất khoảng khoảng từ 386-495. Tại nơi đây Đạt
Ma Sư Tổ đã hành đạo, cũng như đã viên tịch. Ngôi chùa có ngoại cảnh đẹp và
lý tưởng cho việc tu học, tránh xa trần thế.
Tại Phúc Kiến cũng có chùa TL đã hiện diện hàng ngàn năm trong lịch sử. Khi
xưa chùa Phúc Kiến tạo ra những qui cũ rất gắt gao như triệt để cấm các nhà
sư xử dụng các vũ khí hung bạo như dao, rựa hay búa. Do đó khi đốn củi để
nấu bếp các sư sãi phải luyện tập tay không chặt cây và chẻ củi. Nên trong
nhiều bộ sách hay phim kiếm hiệp Trung Hoa có nhắc đến sự kiện này.
* Hướng Về Tây Lai Tự:
Từ thành phố Hacienda Heights, hướng đông nam của thành phố Los Angeles, xe
chúng tôi leo dốc ngoằn ngoèo lên tận một đồi cao. Chúng tôi đến chùa Tây
Lai, khung cảnh thật yên tĩnh, không khí trong lành trên đồi vắng thật thanh
nhàn. Chuà được xây năm 1988, trên một lô đất rộng 15 mẫu, với địa thế thiên
nhiên nhiều đồi núi bao quanh. Tầng dưới là chổ đậu xe. Tầng thứ nhì là các
dãy nhà san sát bên nhau bọc thành hình vòng cung như bảo tàng viện, nhà ăn,
trà thất (tea room), thiền đường (meditation center), phòng thông tin
(information room) với sách vở cho du khách dừng chân và tham khảo các sách
tại đây, rồi phòng bán đồ lưu niệm (gift store), kế đến là phòng ốc của các
lớp học giáo lý hay Hoa ngữ, xen kẻ đó đây là các tượng Phật Thích Ca, Phật
Di Lạc, Đạt Ma Sư Tổ, Phật Quan Âm, Tam Tạng,... Bạn bè tôi chụp nhiều hình
kỷ niệm sau những năm dài mới được đoàn tụ lại với nhau. Chồng chị Lilly Huệ
là anh Rémy Thôi, cái tên kéo theo gôut thích cognac Rémy Martin mà bạn bè
phong cho anh. Rémy Thôi có dáng dấp cao ráo, và khuôn mặt điển trai, nụ
cười hiền hòa như nam tài tử Pháp Jean Paul Belmondo ngày nào, tôi đã xem
Jean Paul Belmondo trong phim “A Bout De Souffle”, một phim loại trinh thám
nín thở, với tài diển xuất xuất thần sầu của JP Belmondo. Anh Thôi có năng
khiếu chơi guitar loại nhạc classic và flamenco, cũng như có đam mê chụp ảnh
nghệ thuật. Hôm nay anh đi hộ tống chị Lilly Huệ không ngoài vai trò một
nhiếp ảnh gia nghệ thuật.
* Về Với Phật pháp:
Nhìn về phía trước mặt tôi là tòa nhà có tên "Nghinh tân các", ở tiền diện
ngay lối đi vào khuôn viên chùa. Đây là phòng tri ân các mạnh thường quân đã
góp công của xây chùa, tôi thấy hàng ngàn tượng Phật chi chít bao vòng phòng
này. Trong khuôn viên chùa phía trước mặt tôi là "Đại hùng bảo điện" (ĐHBĐ),
nơi chánh điện làm lễ Phật chính tại đây. Bên trong có ba tượng Phật thật
lớn, được sơn như màu mạ vàng và bao chung quanh tường rất nhiều tượng Phật
trong các ô nhỏ ghi tên các ân nhân bảo trợ cho chùa. ĐHBĐ là một tòa nhà
trên đỉnh đồi cao với hằng chục bước thang đi lên. Các bạn tôi trong phái
đoàn lên đây đốt nhang, khấn vái lạy Phật nơi chánh điện Phật đường nàỵ
Trong khi đó tôi rẽ ra khỏi đoàn người bách bộ sang phòng Information tìm
sách đọc thì bắt gặp nhiều du khách thăm viếng. Tôi có ý định làm quen những
du khách da trắng vì tính hiếu kỳ và tò mò. Đại để tôi muốn hỏi họ nghĩ sao
về Phật giáo, cơ duyên nào đưa họ đến đây, và họ học hỏi được những điều gì
khi họ đi thăm thắng cảnh tôn giáo như tại chùa Tây Lai. Một cặp vợ chồng
người Mỹ sang từ Miami, họ nói họ xem trên website về ngôi chùa này và đến
đây vì là lòng mến mộ Phật giáo. Tôi xoay sang nói chuyện với hai mẹ con
người Mỹ đến từ San Diego, họ cạo nhẵn nhụi mái đầu như các ni cô, họ cho
biết mỗi khi có các khóa học giáo lý họ thường lên đây tham dự. Một phái
đoàn khác từ Úc châu sang viếng chùa như hành hương tìm hiểu danh lam thắng
cảnh địa phương và họ rất thích thú khi nhìn một ngôi chùa có cấu trúc Á
châu nằm sừng sững trên một diện tích 15 mẫu tại thành phố đông dân hàng thứ
nhì Mỹ Quốc. Có lẽ điều tôi ghi nhớ nhất là khi trao đổi những mẫu đối thoại
lý thú với một cặp tình nhân trẻ từ Âu châu sang. Chàng tên Jean-Marc Réno
là một nhà phân tâm học người gốc Bỉ, nàng tên Marie-Anne Bisset là người
Pháp tốt nghiệp cao học triết đông phương. Họ nắm khá vững vàng triết lý
Phật giáo, và họ đã viếng nhiều nơi từ Ấn Độ, Tích Lan, Tây Tạng, Thái Lan,
Nhật Bản và Trung Quốc chỉ để tìm hiểu về Phật giáo.
Marie-Anne (MA) như một diển giả với tài hùng biện trả lời tôi khi được hỏi
tại sao cô theo Phật giáo. MA cho là tu theo Phật giáo là tự giác ngộ, tự
giải thoát cho chính mình. Cuộc đời là những ngày khổ lụy trầm luân từ bệnh
hoạn, căng thẳng trong cuộc sống, sự ganh tị, giành giật, bon chen, nhục dục
trong xã hội để ước mong đạt điều mình muốn, chúng ta thường xuyên đối đầu
với 3 điều nên tránh trong triết lý Phật giáo là: Tham, Sân và Si.
Tôi hỏi Jean Marc (JM). JM cho là anh thích Phật giáo vì Phật phàm đã là
người như chúng ta, Phật không phải là vị "Thượng đế toàn năng" như trong
các tôn giáo khác. Hơn nữa triết lý Phật giáo dựa trên căn bản tự nguyện và
tự do chọn lựa như việc đi đến chùa lễ Phật không là điều bó buộc nhất định
như các tôn giáo khác. "Bồ tát tại tâm" là phương châm mà mỗi con người đều
có thể tự mình làm lấy như tu tập tại gia, tu tập qua sách vở, rèn luyện
mình nên người từ thiện, trong sáng trong cuộc sống. Tôi nhìn trên tay anh
có quyển sách do hoà thượng viện trưởng chùa Tây Lai là hoà thượng Hsing Yun
viết: “Triết lý về Vô ngã và Giác ngộ”. JM cho là khi bỏ đi "cái tôi" là
phần nào đó ý thức được những giá trị "Chân, Thiện, Mỹ" của cuộc sống, vì
chúng ta nên sống vươn lên cao hơn sự vị kỷ và cuộc sống giác ngộ những việc
làm của mình là vì ta sống cho tha nhân hay vì tha nhân trong kiếp nhân sinh
phù vân, vô thường này. Trên cương vị một nhà phân tâm học, cái nhìn của JM
là bên phương tây các triết gia hay những nhà toán học đặt nặng trên căn bản
duy lý, vì toán học và triết học từ luận lý của Descartes, Leibniz, Pascal,
Kant đến Socrates, Platon, Aristote hay Epicure dựa vào bộ môn có hệ thống
hướng dẫn, có tổ chức trong giác quan suy luận. Trong khi đó triết lý Phật
giáo đặt trên yếu tố tâm linh, sự tự giác hay giác ngộ trong ý nghĩ tìm lối
thoát, tức giải thoát cho chính mình. Nhà phân tâm học Freud, cha đẻ của
triết lý vô thức cho là sự quán chiếu nội tâm tiềm ẩn ý thức đã qua trong
quá khứ. Người ta dùng lý thuyết vô thức trong việc chửa bệnh những vết
thương tâm thần. JM cho là dùng lý thuyết Phật giáo giải thích hay thuyết
phục con người hiểu rỏ lý thuyết nhân quả và nghiệp lực trong trí tuệ để tạo
sự tu tâm để chuyển nghiệp.
Marie Anne lý luận tiếp về quan niệm "cái chết" theo triết gia Epicure là:
"Chúng ta đừng sợ chết vì khi chúng ta còn sống cái chết không đến và khi
chúng ta chết thì cái chết không còn nữa". MA giải thích theo giáo lý nhà
Phật thì cái chết xảy ra vì duyên nghiệp có tránh cũng không khỏi. Do đó khi
sống ta sống với các giá trị "Chân, Thiện, Mỹ", khi cái chết có đến là sự
giải thoát vì nghiệp dĩ (karma) đã hết và hãy an nhiên tự tại chấp nhận lấy
nó. Hơn nữa, trong Phật giáo sau cái chết khoảng thời gian 49 ngày hay thất
tuần ngắn ngủi này được gọi là bardo, tức lúc con người ngưng thở và hương
linh bắt đầu rời xác thân. Đây là thời gian một người được định đoạt sẽ theo
về cõi niết bàn (nirvana) như sang một thế giới cực lạc, tốt hơn hay nếu căn
nghiệp còn nhiều, nợ trần gian còn thiếu con người sẽ trải qua vòng luân hồi
tái sinh (cycle of samsara) hay còn gọi là bánh xe luân hồi (wheel of
samsara).
Jean-Marc giải thích nếu đem lý thuyết vũ trụ so sánh với triết lý Phật giáo
cũng có thể rút ra sự so sánh giữa môn thiên văn học và Phật học, từ đó có
những điểm tương đồng. Lấy ví dụ sự liên hệ giữa vật thể và tâm trái đất.
Các vật thể chịu sức hút của trái đất từ trung tâm để có sự sinh tồn của mọi
vật hay mọi sinh hoạt hiện diện trên trái đất. Con người để có cuộc sống tốt
đẹp, họ cần nuôi dưỡng những giá trị tâm linh lấy Chân, Thiện, Mỹ làm gốc,
tức cái tâm ta mang phải giác ngộ mọi việc làm của chính mình, để chính mình
sống với thân tâm an lạc, để thâm tâm nhẹ nhõm, thoải mái và cuộc đời có
nhiều ý nghĩa hơn. JM kết luận sở dĩ thế giới tây phương ngày nay dễ dàng
chấp nhận những cái hay của Phật giáo vì nó đáp ứng đúng nhu cầu tâm linh
của họ. Trong những xã hội tân tiến khi tội ác càng gia tăng, xã hội có
nhiều xáo trộn nội tại do sự phát triển kinh tế quá độ, sự căng thẳng tâm
thần (mental stress) là yếu tố nguy hiểm cho sức khoẻ người ta có xu hướng
đi tìm giải pháp thích hợp cho họ. Trong vấn đề tâm linh Phật giáo là cái
cứu cánh được thế giới tây phương mến mộ. JM còn đưa ra nhận xét bất hủ của
nhà bác học Albert Einstein khi ông cho là: "Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng
được các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không
cần xét lại các quan điểm của mình để cập nhật hóa với sự tiến triển của
khoa học. Thật vậy, Phật giáo đã bắc nhịp cầu nối kết giữa tôn giáo và những
tư tưởng khoa học. Vượt bao thời gian Phật giáo mãi mãi mang lại giá trị cho
nhân loại".
Tôi bắt tay và chào từ biệt Jean-Marc và Marie-Annne.
Sau đó bước sang phòng trà thất, tôi gặp một phật tử người Đài Loan, trong
lúc trà đàm tại đây, ông vui miệng kể tôi 3 mẫu truyện tích về lòng tham,
sân và si như sau:
Một cậu bé đến kể cho một nhà sư nghe là cha cậu chê cười những người đi tu
và ông nói rằng ông chỉ đi tu khi ai cho ông tiền thật nhiều. Vị sư kia bèn
nhắn cậu bé về kể lại cho cha là vị sư sẽ trả cho ông năm đồng khi cha cậu
đồng ý đọc 5 bài kinh ngắn. Người cha cậu bé đồng ý và sau đó ông đọc 5 lần
kinh, 10 lần, 100 lần,... ông mãi mê đọc vì thấy mình có nhiều tiền. Cho đến
một ngày kia ông quen đọc và thành thói quen hàng ngày thiếu không được, ông
không màn đến tiền nữa. Khi đó ông nhận thức những lời kinh ông đọc như một
nhu cầu giác ngộ.
Câu chuyện thứ hai, có một người đàn ông chuyên môn lươn lẹo, dối gian, tị
hiềm, ganh ghét và lường gạt người khác để kiếm tiền bất chánh. Một hôm ông
năm mơ thấy mình chết bị đầy xuống ngục A tỳ gặp quỷ sa tăng xử tội, ông bị
đầy qua nhiều cửa ải khác nhau như bị quỷ cắt lưởi, lóc thịt, móc mắt, cho
vào chảo dầu sôi, quay nướng thân thể ông, và bị máy xay nghiền nát thây.
Khi ông thức giấc ông nguyện tìm một nhà sư vấn kế. Nhà sư khuyên ông hãy
sám hối, giác ngộ, và ông thay đổi hẳn nếp sống cũ cho thân tâm an lạc. Từ
đó người đàn ông vui với nếp sống mới không bị ám ảnh bởi mặc cảm tội lỗi.
Chuyện thứ ba, ngày xưa Phật Thích Ca có người em chú bác là thái tử Nan Đà.
Nan Đà có người yêu thật đẹp. Phật Thích Ca biết Nan Đà có căn tu nhưng
nghiệp dĩ vẫn còn. Ngài nói với thái tử Nan Đà là sẽ đưa thái tử về thiên
cung. Tại thiên cung, Nan Đà được thử thách vì có nhiều mỹ nhân, tỳ nữ trẻ
đẹp và họ đã làm siêu lòng Nan Đà. Nan Đà từ bỏ người yêu cũ chạy theo những
mối tình mới. Phật Thích Ca phán với Nan Đà: "Thái tử chưa tu được. Ta mong
thái tử xét lại hành vi của mình". Sau khi suy ngẫm lại lời phán của Phật
Thích Ca. Thái tử Nan Đà cảm thấy hối hận và từ bỏ tất cả để theo con đường
tu học.
Ba mẫu chuyện kể trên của ông Đài Loan nghe qua thật tầm thường nhưng bên
trong mỗi chuyện có cái triết lý sống được lồng vào đó. Xét cho cùng trong
cuộc đời xung quanh chúng ta có không biết bao nhiêu chuyện đau khổ, chuyện
thương tâm, chuyện nhiễu nhương hay chuyện cười ra nước mắt mỗi ngày vẫn
tiếp diển.
xxx
Trời tối dần chúng tôi rời chùa Tây Lai về họp tại nhà chị Mỹ Thanh gần
Anaheim Hills. Chị Mỹ Lan, người chị lớn của chị Mỹ Thanh đã khoản đãi tất
cả chúng tôi một buổi cơm chay chiều thanh đạm, nhưng không kém phần ngon
miệng. Tình bạn 45 năm được khơi lại trong nỗi nhớ, tình đồng hương xa xứ đã
là sợi dây vô hình ràng buộc mọi người lại với nhau quanh các mẫu chuyện
được chia xẻ, mọi người xúm xít hơn để tình bạn được nồng ấm hơn. Dù không
nói rỏ duyên hội ngộ này được trân quý như thế nào, nhưng trong tâm tưởng
mọi người đã mặc nhiên hiểu ngầm trong cuộc sống này chúng ta rất cần những
người bạn tri kỷ, hiểu mình và để chia xẻ những nỗi vui buồn với nhau. Trong
ý nghĩ như vậy chuyến Tây Lai du ký sẽ đóng góp thêm những kỷ niệm có những
nụ cười rạng rỡ hay tiếng thì thầm thắm thiết bên nhau khi chia tay để mỗi
người về một phương trời khác biệt.
Việt Hải
Orange county, Xmas 2003
Việt Hải
|
|