|
CD: Lầu Thơ Vút Cánh
Hạc Vàng
Phần Giới Thiệu Dẫn Nhập:
Tôi gặp nhạc sĩ Mai Đức Vinh (MDV) trong chuyến anh đưa gia đình về thăm
mẹ tại Nam Cali, anh cho tôi biết anh vừa thực hiên xong diã CD mới
nhất, CD mang tên "Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng", được anh phổ theo thơ của
thi sĩ Hải Đà Vương Ngọc Long (VNL). Tôi cũng quen biết anh VNL qua vài
tác phẩm thi tập và vài CD do nhiều nhạc sĩ phổ thơ anh. Anh VNL ngoài
việc làm thơ Việt Ngữ, anh còn phóng tác thơ Hán, thơ Pháp, thơ Anh sang
Việt ngữ. Giờ đây tôi xin hân hạnh giới thiệu tác phẩm văn hóa nghệ
thuật chung của hai anh VNL và MDV. Đây có thể là CD đầu tiên, từ xưa
đến nay tạo nét hỗn hợp độc đáo vô tiền khoáng hậu một tác phẩm thi ca
đông phương giữa cái cổ điển và cái tân thời, giữa thi ca và âm nhạc
giao duyên, giữa cái thanh tao và cái chân chất mà hai tác giả cố đóng
góp vào kho tàng nghệ thuật âm nhạc văn hóa Việt Nam.
CD gồm 15 ca khúc từ bài đầu "Hoàng Hạc Lâu" đến bài cuối "Xuân Tiêu
Vọng Hàn Giang". Tôi nghe miên man, nghe mê mãi sự thâm thúy truyền cảm
của thi ca, nét mới lạ của những dòng nhạc độc đáo, phong phú và trữ
tình của nhạc sĩ MDV. Sau đây là bài chi tiết về nội dung các bài thơ
được phỏng tác hay sáng tác bởi thi nhân VNL.
Phần chi Tiết của "LẦU THƠ VÚT CÁNH HẠC VÀNG":
Thế giới của Đường Thi là một thế-giới siêu thoát, không bến bờ, bát
ngát, triền miên và vô tận. Thời Đường đã đưa Đường-Thi lên đến tuyệt
đỉnh, cực thịnh của nền thi-ca nhân loại, diệu vợi, có một không hai. Đó
là tinh-hoa của nền văn hóa Trung Quốc... Với một di-sản đồ sộ, thơ
Đường rất phong phú và đa dạng, tả tình, tả cảnh, nói lên cái khí hạo
nhiên của con người, cái đạo Trung-Hiếu-Nhân-Nghĩa làm đầu.Thơ Đường
chia ra nhiều thể loại, nội dung khác nhau: những bài thơ thời
chinh-chiến tả cảnh biên thùy, nỗi lòng người lính thú xa nhà, những bài
thơ tả cảnh đồng quê dân dã, bốn mùa xuân hạ thu đông, những thú tiêu
khiển thiên nhiên, hưởng nhàn, đọc sách, ngâm vịnh, câu cá, du thuyền,
những bài thơ phơi bày thảm trạng chua xót của xã hội, những bài siêu
trần thoát tục, hệ lụy nhân sinh v.v... không sao kể xiết. Đọc thơ Đường
để cảm nhận tiếng lòng xao xuyến của người xưa vọng lại, của hồn xưa
trăn trở còn phảng phất đâu đây... Những bài thơ với những từ diệu điêu
luyện, ý tưởng phong phú, cảnh tình thắm thiết… đậm đà tình cảm sâu sắc,
nồng nàn, với những ngôn ngữ thâm thúy, tự nhiên hàm súc, ý tưởng chân
thật thanh đạm, luật thi rất tinh mật, hoặc có những bài thơ giàu chất
trí tuệ hơn cảm xúc… có đặc trưng, phong cách và vẻ đẹp riêng biêt.
Mỗi một bài thơ Đường là một bức tranh sống động với các màu sắc hài
hòa, có âm vang kỳ diệu và sức truyền cảm tuyệt vời, gợi mở, quyến rũ và
đi thẳng vào lòng người đọc, để lại những suy tư trầm lắng và rung động
không nguôi… Đường Thi là sự kết tụ mỹ thuật, tinh hoa văn học nghệ
thuật... Mỗi một bài thơ Đường nổi tiếng xứng đáng là viên ngọc quí vô
giá lung linh sáng chói, chẳng bao giờ phai nhạt qua cơn bụi lốc mịt mù
và gió bão của thời gian và không gian vô tận… Bộ Toàn Đường Thi ấn hành
vào năm 1707 chia làm 30 tập, gồm 900 quyển, với hơn 49.000 bài của ngót
hơn 2200 thi sĩ. Thơ Đường có thể nói đã trải qua gần 300 năm (618-907).
Dựa vào sự biến chuyển của các triều đại nhà Đường, có thể chia ra làm 3
thời kỳ tóm tắt như sau với những sắc thái riêng biệt, đặc trưng của thi
ca, và phong cách, trường phái của các nhà thơ: thời Sơ Đường, thời
Thịnh Đường và thời Vãn Đường, trong đó phải đáng kể Thời Thịnh Đường là
thời kỳ vàng son rực rỡ của Đường Thi.
Thời Thịnh Đường (713-846):
Với sự lên ngôi của Lý Long Cơ (tức Đường Minh Hoàng) đã đề ra sự "phục
bích" (dựng lại bức tường cũ), nhắc lại sự việc lật đổ Võ Tắc Thiên
(705) và Lý Long Cơ diệt Vi Hậu (713) để khôi phục nhà Đường. Đường Minh
Hoàng là nhà vua có nhiều tài năng, là một nghệ sĩ (tự nhuận sắc khúc
Nghê Thường), say mê ca múa thi văn, quí trọng văn nhân thi sĩ, đã lập
ra Văn Học quán, nơi chốn để đàm đạo thảo luận thơ văn...Văn họcTrung
Quốc vào thời kỳ nầy đã có cơ hội phát triễn rực rỡ muôn màu, muôn
sắc... Đây là thời kỳ đã đưa thơ Đường lên đỉnh cao chói lọi… Đại diện
cho thời Thịnh Đạt nầy có thể nói có bà nhà thơ rất nổi tiếng, đó là Lý
Bạch, Vương Duy và Đỗ Phủ. Lý Bạch với phong cách hào phóng đại diện cho
dòng thơ lãng mạn bay bổng tự nhiên, đôi khi siêu thoát ra ngoài thựïc
tế. Thơ Vương Duy (thi sĩ còn là một họa sĩ có tài) man mác hương vị
thiền, thanh đạm hồn nhiên, chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Thiền Tông...
Đỗ Phủ đại diện cho dòng thơ hiện thực trữ tình, mang những tư tưởng
Khổng Mạnh của một kẻ sĩ đứng đắn nhận thức được trách nhiệm đối với
vua, nước và dân. Hơn nữa bản thân của Đỗ Phủ cũng sống trong cảnh cơ
hàn nghèo khó. Thời kỳ thi ca của Đỗ Phủ cũng là giai đoạn cảnh thái
bình thịnh trị trôi qua, khi Đường Minh Hoàng say mê nhan sắc Dương Quý
Phi, bỏ bê công việc triều chính và chiến tranh nhiễu nhương xẫy ra, và
chính Đỗ Phủ đã dùng ngọn bút tài ba của mình để miêu tả những hoàn cảnh
xã hội tang thương trong giai đoạn nầy… Trong khi Vương Duy có những
dòng thơ chịu ảnh hưởng Phật Giáo, thơ Lý Bạch man mác màu sắc Đạo Tiên,
thì thơ Đỗ Phủ tiêu biểu tinh thần Nho Giáo, mang tính chất hiện thực
của thời đại... Cho nên người ta thường gọi Vương Duy là Thi Phật, Lý
Bạch là Thi Tiên và Đỗ Phủ là Thi Thánh... Thơ Đường rất phong phú vừa
nội dung lẫn hình thức, kỹ thuật và nghệ thuật, phản ảnh rộng rãi cái
hiện thực thời đại, các sinh hoạt xã hội, quan niệm nhân sinh, thiên
nhiên, lịch sử cá nhân, cung đình…
Quan niệm "Thi Ngôn Chí" (Thơ nói lên cái Chí ) rất thịnh hành trong thi
ca Trung Quốc, thơ phản ảnh chí hướng, tình cảnh , cảm xúc, cuộc đời của
con người. Các thi sĩ Đường Thi đã ôm hoài bảo "kinh bang tế thế", "trí
quân trạch dân", quan niệm thơ là một phương tiện để bảo tồn phong hóa,
là công cụ để giáo hóa nhân tâm, là hình thức để di dưỡng tinh thần con
người… Thơ chính là những tâm tình bộc bạch, là tiếng lòng thổn thức, là
tâm hồn của người thơ đã dàn trải … là thế giới tiềm thức của con người,
là những phẩm chất tinh hoa xuất phát từ trái tim nhân ái, từ trí tuệ
tinh khôi, giàu yêu thương và tình cảm. Thơ gắn liền với cuộc đời, là
những sợi dây tình cảm dạt dào lãng mạn và tư duy ràng buộc con người
với ngoại cảnh và tha nhân.
Thơ là những cảm xúc nội tâm và nét thẩm mỹ tiềm ẩn kết hợp bởi những
yếu tố: Ý Tứ, Hình Tượng, Nhạc Điệu, Tình Cảm, Từ Ngữ, ngẫu nhiên đem
lại những hấp lực vô hình làm rung động lòng người... nhờ những âm thanh
và ngữ điệu... mời gọi những thưởng thức đam mê và cảm thụ say đắm… Nhạc
và Thơ đã phối hợp hài hòa, để từ đó không phải chỉ là những dòng chữ
nghĩa đơn thuần, mà đã tạo nên những dòng âm thanh hài hòa gây ra ấn
tượng thích thú, rung động cho người đọc và người nghe… sẽ không còn hàm
ẩn nữa, mà lôi cuốn, gây sự gợi mở rất phong phú , ấn tượng cụ thể cho
sự cảm thụ đồng tình giữa tác giả và thính giả...
Những bài thơ dịch phóng tác đã tạo nên những sự liên kết đặc biệt của
những ý từ, biến hóa linh hoạt của câu thơ, tạo ra những âm thanh từ
điệu, những hình ảnh biểu tượng cái cảm xúc của thơ, những sắc thái tình
cảm tinh tế… tỏa bùng ra những sắc màu, âm vang, và nhịp điệu… Ở đó ta
đã tìm thấy cái rung động xao xuyến của âm điệu réo rắt trong thơ, tìm
thấy những hình ảnh sinh động qua những ý từ tha thiết mà thi nhân muốn
trút hết nỗi niềm tâm tư thầm kín của mình vào đó.
Những bài thơ Đường có một cấu trúc cô đọng, ngôn ngữ đặc trưng, đầy
những ẩn dụ, nhân hóa… ngắn gọn, nhưng qua sự phóng tác tài tình, đã đem
thêm nhiều hình tượng và hình ảnh để tạo nên những dòng nhạc trữ tình…
mà vẫn không đi xa ý chính của bài thơ nguyên tác… để giải bày những tâm
trạng tha thiết, những cảm xúc dạt dào, những quằn quại của nội tâm, tạo
nên những tính nhạc âm vang . Nhà thơ Paul Verlaine (1844-1896) đã đề
cao vai trò âm nhạc trong thơ " Nhạc phải là đầu tiên, cần phải có nhạc,
có hoài và có mãi "
Thơ đã được cải biến qua nhạc, đã được đem vào nhạc thì người đọc không
cần phải sử dụng siêu giác quan để cảm thơ và hiểu thơ, mà họ chỉ cần
nghe những lời ca, tiếng hát, tiếng đàn, âm điệu nhạc, nghĩa là dễ cảm
thông với xuất xứ tác phẩm, cuộc đời tác giả, và đi xa hơn là cái hồn
của bài thơ, đã đem những cái hình tượng sinh động đập vào mắt và rung
động trái tim con người…
Cũng vào thời Thịnh Đường, từ khúc là một thể điệu mà nhiều nhà thơ rất
ưa thích, vì dạt dào thanh điệu của nhạc và ý tứ của lời , với tiết điệu
du dương, ngôn từ tươi sáng. Nhiều nhà thơ đã đựa theo giai điệu có sẵn
mà đặt ra lời ca. Từ khúc chan chứa nhạc điệu sinh động và ý thơ trong
sáng đẹp đẻ.
Cảm xúc bất chợt bắt nguồn từ thiên nhiên ngoại cảnh, và từ đó làm rung
động và chi phối lòng người, những cảm xúc đó qua dòng thơ trữ tình và
điệu nhạc trầm bổng đã trở nên dạt dào, lai láng biến thành những con
suối chuyên chở những đồng cảm, tâm tư đến các người đọc và người nghe,
tạo ra những khung trời tri âm, tri kỷ... Thật ra âm nhạc và thơ phú đã
đi đôi với nhau từ đầu đời Đường qua các thể điệu gọi là nhạc phủ, thi
nhân đã dựa vào nhạc phủ để làm thơ, hoặc những bài thơ nổi tiếng đã
được phổ nhạc để trở thành ca khúc phổ thông lưu truyền trong nhân gian.
Có những thể loại nhạc phủ chỉ có giá trị âm nhạc mà không có giá trị
văn chương như Nghê Thường Vũ Y của Đường Minh Hoàng hoặc ngược lại
những bài như Trương Tiến Tửu, Thái Liên Khúc, Vọng Xuân Từ, Du Tử Ngâm
v.v... là những bài nhạc phủ có giá trị văn chương hơn là âm nhạc.
Theo Tạp Chí Giao Lưu Văn Hóa (số 6):
Thơ Đường đã được dịch sang Châu Âu khá sớm, bài Tống Xuân Từ là bài
Đường Thi đầu tiên đã được giáo sĩ người Pháp Saint Demain phiên dịch
vào khoảng năm 1750. Sang thế kỷ 20, các nước Âu Mỹ giới thiệu thơ Đường
càng ngày càng nhiều, trong đó nhiều bài thơ Đường được soạn thành ca
khúc và phổ nhạc . Năm 1905 nhà văn Đức Bêcher xuất bản tập thơ cổ Trung
Quốc với tên "Tiếng Sáo Trung Quốc" (Trung Quốc Chi Địch), mà nhà soạn
nhạc Thụy Điển Sweikensel và nhà soạn nhạc Australia Wylphe Sthehow đã
lấy những bài thơ trong "Tiếng Sáo Trung Quốc" ra phổ nhạc. Các bài thơ
của Lý Bạch như "Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí " (Ngày Xuân Uống Rượu say,
ngủ dậy, nói chí mình) và bài " Tĩnh Dạ Tứ " (Xúc cảm đêm trăng) đã được
nhiều nhạc sĩ Âu Châu soạn thành nhạc . Bài Tống Biệt, Tạp Thi của Vương
Duy, bài Hướng Lưu thập cửu của Bạch Cư Dị đã được nhà soạn nhạc Tiệp
Khắc phổ nhạc. Nhạc sĩ Pháp Lasailler cũng đã phổ bài thơ Tiết Phụ Ngâm,
trong đó có 2 câu "Trả ngọc sáng, lệ như mưa . Tiếc không gặp gỡ khi
chưa lấy chồng" thành một ca khúc nổi tiếng.
Trải qua gần hai nghìn năm, qua bao nhiêu thế cuộc thăng trầm, biến
thiên theo cát bụi mờ của thời gian, mỗi một bài thơ Đường được gọi là
xuất sắc, nổi tiếng là một đóa hoa phong nhụy kiều diễm tràn đầy hương
sắc vẫn tỏa hương thơm ngào ngạt trong khung trời nghệ thuật, mà mỗi
người yêu thích thơ Đường khi đọc lại vẫn tưởng chừng như một cái gì
thật mới mẻ, sống mãi trong lòng người…
Do sự gắn bó hài hòa giữa Thi, Họa và Nhạc, mỗi bài thơ Đuờng hay đều
tạo nên những âm vang sâu lắng rung động lòng người… Những bài thơ Đường
được VNL lựa chọn, tuyển dịch trong CD "Lầu Thơ Vút Cánh Hạc vàng " là
những bài thơ nổi tiếng trên thi văn đàn Trung Quốc.
Học giả Trần Trọng San, trong bài bạt "Tôi bước vào cảnh giới Đường Thi
từ bến Phong Kiều qua lầu Hoàng Hạc" đã tâm sự rằng "Phong Kiều Dạ Bạc
và Hoàng Hạc Lâu là hai bài đã in trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất trong
số những bài thơ Đường mà gia-nghiêm dùng dạy tôi học chữ Hán trong lúc
ấu thời ..." (TTS)
Như đã biết, Phong Kiều Dạ Bạc là một trong những bài thơ Đường nổi
tiếng của Trung-Quốc và chính vì nhờ bài thơ nầy đã được dịch ra nhiều
thứ tiếng mà chùa Hàn Sơn đã trở nên một danh lam thắng cảnh thu hút rất
nhiều du-khách ngoại quốc đến viếng thăm hằng năm.
Một câu hỏi được đặt ra là, tại sao một bài thơ "tả cảnh thiên nhiên"
với những cảnh sắc bình thường như cây cầu , bến nước, hàng phong, trăng
tà, sương đầy trời, tiếng quạ kêu, khách thuyền thơ v.v... mà lại nổi
tiếng và được lưu-truyền vượt thời gian và không gian? Cái khung-cảnh
"thiên nhiên" trong bài thơ này không lãnh đạm, vô tình , mà là một cảnh
sắc trữ tình sống động, trầm lặng tịch liêu, bàng bạc cái tâm bao la của
thiên nhiên vạn vật, làm người nhìn phải xao xuyến, đăm chiêu, rồi đắm
chìm trong nỗi sầu nhớ triền miên, trong cái buồn bát ngát hư không,
quay cuồng với muôn vàn nỗi nhớ thương: nhớ quê, nhớ nhà, nhớ gia-đình.
Con người với một tâm thức lãng mạn, chỉ còn là một sinh-vật bé nhỏ ,
hữu hạn, cảm thấy cô đơn và lạc lõng, và bị bao trùm phong tỏa trong cái
vũ trụ vô chung vô thủy, chìm ngập trong cái vô tận của màn đêm, cái bát
ngát mênh mang của sương khói vô hình, không bến bờ. Chúng ta có thể
tưởng tượng rằng thi-sĩ Trương Kế, trong một đêm trăng mùa thu, neo
thuyền tại bến nước Phong Kiều, lặng thầm nhìn trời đất chung quanh...
Một đêm cô liêu quạnh quẽ chỉ người và cảnh vật gợi cảm, gợi tình ...
nhìn lên màn trời đen là hình ảnh của một một mảnh trăng vàng vọt đang
từ từ lặn vào cõi vô cùng, và mờ mờ gần xa là một màn sương khói dầy dặt
quanh thuyền mà ông tưởng chừng hàng hàng lớp lớp sương mờ ảo hư vô đó
đang tỏa dâng đầy ắp khung trời. Những làn sương khói hư ảo đó đã đem
lại cảm giác liêu trai lành lạnh thấm dần vào cơ thể, cảm xúc và tâm hồn
của nhà thơ. Khung cảnh đêm huyền ảo, mông lung, tịch mịch, và tiếng quạ
kêu lanh lảnh như chọc thủng màn đêm cô quạnh... Ở gần đó là cây cầu
cong bắc ngang sông, chia cách kẻ bên này, người bên kia, và những lá
phong đỏ ối, phơ phất trong gió, và chiếc thuyền nan neo trên sóng nước
bập bềnh đã gợi lại nỗi nhớ nhà da diết, đem lại niềm sầu cảm vô biên...
Lá phong chuyển màu đỏ ối, như trong một câu thơ Kiều". Rừng phong thu
đã nhuộm màu quan san", và cũng như một chiếc lá ngô đồng rơi xuống, cơn
gió heo may tha thướt... là những báo hiệu cho một mùa thu đã trở về
trên bến sông đất khách quê người... "Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ
cộng tri thu " (Một chiếc lá ngô đồng rơi xuống, cả thiên hạ biết mùa
thu đã trở về...).
Hãy tưởng tượng khi nhà thơ một mình nằm trên thuyền trong một đêm thu,
nhìn những hàng cây lá phong đỏ ối, lả tả rơi rụng trên giòng sông cuốn
trôi, đóm lửa chài bập bùng, tiếng quạ kêu, và văng vẳng trong đêm thanh
vắng là tiếng chuông chùa ngân vang, ai mà chẳng chùng lòng não nuột...
Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt mờ
Cầu phong đốm lửa giấc sầu mơ
Hàn Sơn khuất bãi Cô Tô vắng
Đêm điểm hồi chuông khách sững sờ...
(Phong Kiều Dạ Bạc – Trương Kế)
Hoàng Hạc Lâu cũng là một bài thơ tả cảnh, bàng bạc tình yêu quê hương
da diết và man mác hương vị Thiền, ẩn hiện cái lý chân không, vô thường
và vô ngã, mạch thơ tự nhiên uyển chuyển và biến hóa, không gò bó câu nệ
trong khuôn khổ đối ngẫu niêm luật của thể thơ Đường, lời thơ siêu thoát
rung động tâm hồn người đọc. Mặc dầu biết rằng một bài thơ là do ngôn
ngữ tạo thành, "dùng từ để biểu đạt cái nội dung là điều ắt có và phải
cần… nhưng còn có điều quan trọng hơn nữa đó là phương thức và phong
cách để hình tạo nội dung đó…" Cái phương thức mà thi-sĩ Thôi Hiệu dùng
trong bài Hoàng Hạc Lâu là tất cả một kỹ thuật hàm xúc, tinh vi, độc
đáo, một thế giới đặc thù riêng biệt và mới lạ của thứ ngôn ngữ hiền
triết, đã kết nối được tất cả hình ảnh, ý niệm, tâm thức, cảm nhận, và
giác quan một cách tài tình và hài hòa trong vũ trụ, con người, thời
gian và không gian. Ngôn ngữ thi ca đã bay bổng tự nhiên một cách phóng
khoáng, không dụng công đẽo gọt. Thôi Hiệu đã thành công chuyển đạt được
nghệ thuật tinh vi, thâm thúy, đầy hình tượng sáng sủa và âm thanh đãi
lọc, có sức thuyết phục lôi cuốn được sự chú ý và tạo được cảm xúc mạnh
mẽ nơi người đọc. Hoàng Hạc Lâu đúng là một bông hoa diễm tuyệt, một
viên ngọc vô giá trong rừng thơ Đường, là bài thơ tuyệt tác bất hủ, sống
mãi mãi muôn đời…
Có thể nói những bài thơ Thiên Nhiên Sơn Thủy, miêu tả cảnh núi sông cây
cỏ cũng đã là những đề tài phong phú vô tận cho các thi nhân cầm bút
bằng những nét chấm phá cô đọng, những đã gợi rất nhiều liên tưởng sâu
sắc, qua những vần thơ đó tác giả đã muốn gửi gấm tất cả những tâm tình
u uẩn, cũng như cảm xúc dạt dào của mình vào trong đó. Ngôn ngữ thơ
Đường rất giàu hình ảnh và cảm xúc. Người ta thường nói "ý tại ngôn
ngoại" (ý tại ngoài lời), những bài thơ Đường ngắn gọn như bát cú, tứ
tuyệt, chỉ giới hạn trong một số từ ngữ nhất định, mà đã diễn đạt tất cả
những suy tư cảm xúc của tác giả , mặc dầu cô động hạn chế, nhưng rất
hàm súc, toàn bài thơ như đôi mắt… cửa sổ của linh hồn đã giải bày được
đời sống nội tâm, trạng thái tư duy, dung hòa giữa mẫn cảm của con tim
và nhận thức của khối óc.
Nhạc điệu câu thơ hài hòa, tiết tấu nhịp nhàng ngân nga, âm hưởng sâu
sắc nồng nàn, tạo nên những cảm giác nhẹ nhàng êm ái dễ đi vào tâm hồn
người đọc. Cái phong cách của Đường Thi là một tổng hợp tinh vi của một
nghệ thuật xử dụng ngôn ngữ phong phú điêu luyện qua thi pháp, thể loại,
từ điệu, âm nhạc … đồng thời đã phản ảnh những quan điểm tích cực và
tiêu cực, những tư tưởng triết lý của nhà thơ, được ăn sâu như gốc rễ
qua các triều đại lịch sử… Khi nhà thơ đã đắm chìm phong tỏa trước một
thế giới vật chất chung quanh, của một khung cảnh thiên nhiên bao la vô
hạn, con người thơ chỉ cảm thấy mình là một sinh vật nhỏ nhoi bất lực,
đành mang một tư tưởng yếm thế thụ động "Thuận thiên giả tồn, nghịch
thiên giả vong"… Có những nhà thơ suốt đời mang hoài bão "trí quân trạch
dân", "kinh bang tế thế " đến khi gặp cảnh không may, gian khổ, cảnh ngộ
éo le, thì chán nản buông xuôi thích tìm đến thiên nhiên với cuộc đời
"bán quan bán ẩn"… Họ đã tìm thú tiêu khiển bằng cách điền viên ẩn dật,
phỏng đạo cầu tiện... Nội dung thơ miêu tả thú điền viên, sơn thủy, lối
sống ẩn dật thanh nhàn chịu ảnh hưởng đạo lý vô-vi đã chiếm một vị trí
quan trọng trong thơ Đường.
Tĩnh Dạ Tứ: là một kiệt tác của Lý Bạch. Lý bạch thuở nhỏ thường lên
đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng, lớn lên ông ngao du sơn thủy, nơi
đất khách quê người. Trong một đêm thanh tĩnh, ánh trăng sáng vời vợi
trên đầu giường của nhà thơ cũng chính là trăng sáng trên núi Nga Mi của
quê hương ông. Chỉ còn trăng sáng và thi nhân, và nỗi nhớ quê hương biền
biệt đã xao động lòng người thi sĩ để viết nên bài thơ Tĩnh Dạ Tứ. Trong
một đêm trăng vắng vẻ nhà thơ Lý Bạch nằm trong thư phòng, bóng trăng
khe khẽ len qua khung cửa sổ rọi sáng đầu giường, giữa một không gian
tịch mịch nửa đêm, hồn thơ đã nhập vào hồn trăng bay lâng lâng vào một
cõi mộng ảo vô cùng… đã đi từ trạng thái mơ hồ đến tỉnh thức. Ánh trăng
sáng vời vợi trên bầu trời cao kia, tỏa những tia sáng lặng lẽ, êm ái
huyền diệu trên chiếc giường ngủ, rất gần gũi và thân thiết với là thơ
làm sao, và đó cũng chính là vầng trăng mà Lý Bạch đã mải mê ngắm trên
núi Nga My trong những ngày niên thiếu ở quê nhà. Bức tranh thu đã được
tô đẹp bằng một vầng trăng thu huyền ảo… Trăng soi lồng lộng trên sóng
nước bập bềnh biến dòng sông thành một giải lụa vàng óng ả… Những tia
sáng của trăng chập chờn mờ ảo đã làm nhà thơ ngỡ ngàng như sương khói
bao phủ đầu giường, nhìn trăng mà lòng buồn vời vợi, ngỗn ngang trăm mối
tơ lòng… Có nỗi buồn nào ray rức, da diết ngấm tận tâm hồn bằng nỗi sầu
nhớ cố hương, quê cha đất tổ:
Giường khuya trăng chiếu bời bời
Sương rơi phủ đất ngỡ đời chiêm bao
Ngẩng đầu trăng sáng trên cao
Cúi đầu ngấn lệ nghẹn ngào... cố hương
(Tĩnh Dạ Tứ – Lý Bạch)
Thiên nhiên của thơ Đường bàng bạc tình Xuân, Hạ, Thu, Đông… Bốn mùa hoa
lá thay màu, đâm chồi nẩy lộc sẽ tuần tự biến thiên theo định luật vô
thường của vũ trụ… nhưng Tiết Thu, Tình Thu, Ý Thu mãi mãi là sức hút
lôi cuốn mãnh liệt muôn chiều của thi ca nghệ thuật trong nền văn hóa
Đông Tây kim cổ… Những đại thụ sừng sững trên thi đàn Trung Quốc như Đỗ
Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Trương Kế, Vương Duy, Giả Đảo, Lưu Vũ Tích… là
những ngôi sao lấp lánh trên thi đàn đời Đường Tống đã xử dụng bút pháp
tinh vi và mẫn tuệ tuyệt vời để ca ngợi một mùa Thu mênh mang, một tình
Thu dịu vợi, một ý Thu bàng bạc, một hồn Thu lâng lâng, trầm lặng đến
nao lòng của trăng sương, gió núi, với những phút giây thanh thản hồn
nhiên, trong nỗi bâng khuâng cánh nhạn bay về, hòa lòng xao xuyến theo
nhịp chày đập vải may áo, nỗi niềm ray rứt đón gió heo may the thắt lạnh
lùng, nỗi lòng ảm đạm nhìn ánh lửa bập bùng đom đóm trong đêm, những
tiếng tơ lòng khao khát ngân vang trầm mình trên những phím đàn thánh
thót dưới ánh trăng ngà, với lá ngô đồng rơi lả tả đầy ắp thềm trăng…
Những khung cảnh thiên nhiên chan chứa khí vị Đạo học, phù hợp với tâm
trạng nhàn dật, tư tưởng Nho gia, cái triết lý về cuộc đời, nhân sinh
quan của tác giả, đôi khi mang những tư tưởng bi quan yếm thế, quan điểm
cuộc đời chỉ là một giấc hoàng lương mộng, kiếp sống tạm bợ, phù du. Và
trong cái nỗi khắc khoải suy tư đó, nhà thơ chỉ ước ao thầm mong có một
kẻ tri âm, một tâm hồn đồng điệu, và có những đêm dài nhà thơ đã trăn
trở, trằn trọc, dằn vặt, đay nghiến, cấu xé với hồn thơ và từng con chữ
như Giả Đảo, một nhà sư nổi tiếng “thôi xao”, “ba năm làm được hai câu”
, sự lựa chọn từ ngữ rất kỹ càng công phu, có chiều sâu của cảm nghĩ
thâm thúy... Bài thơ Dạ Bạc Ngưu Chử Hoài Cổ man mác tình hoài cổ, trong
một đêm thu giữa cảnh trời đất mênh mông bát ngát, người thơ bỗng cảm
thấy lòng trống trải cô đơn, nghĩ đến chuyện xưa tích cũ mà ngao ngán
ngậm ngùi nghĩ chuyện đời nay, tìm đâu ra người tri âm tri kỷ… Nhà thơ
đã dùng quá khứ để làm lăng kính chiếu vào hiện tại bằng những tia sáng
triết lý muôn màu nói lên sự biến đổi của nhân thường thế thái khi thời
gian như một con nước chảy qua cầu và vũ trụ biến đổi không ngừng…
Thu Phố Ca được tác giả phóng tác từ 4 bài thơ theo ý thơ của Lý Bạch
(Thu Phố Ca, Dạ Bạc Ngưu Chử Hoài Cổ), của Giả Đảo (Tuyệt Cú) và Tiền
Khởi (Giang Hành)
Thuyền trôi ru nhẹ giấc nồng
Gió hây hây thổi, sóng bồng bềnh chao
Đôi bờ lau sậy lao xao
Tiếng thu trầm bổng xạc xào giữa đêm
Bến Ngưu thuyền đậu sông Tây
Trời im trong vắt chẳng mây nhuốm màu
Thuyền thu ngắm cảnh trăng thâu
Muốn quên chuyện cũ lại sầu nhớ ai
Cất cao vút… giọng ngâm dài
Người xưa nào biết lòng này hay chăng?
Mai thuyền bỏ bến buồm căng
Lá phong rơi rụng bẽ bàng người đi ……
Buồn ơi tóc trắng phau phau
Dài ba nghìn trượng sầu đau nghẹn ngào
Hỏi rằng gương sáng nơi nao
Sương thu có biết lối vào hay không?
Hai câu ròng rã ba năm
Rưng rưng ngấn lệ... sầu ngâm, tủi thầm
Ngậm ngùi vắng bóng tri âm
Thu về góc núi đêm nằm suy tư…
Nhạc phẩm Xuân Vọng, phóng tác theo ý thơ Đỗ Phủ gồm 3 bài Xuân Vọng,
Giang Mai, Tuyệt Cú 12. Nói đến tình yêu quê hương thiết tha mỗi độ xuân
về phải nhắc đến nhà thơ Đỗ Phủ, một ngôi sao sáng chói trên Thi đàn
Trung Quốc vào thời Thịnh Đường . Ông là nhà nho tiến bộ, hấp thu được
những tư tưởng Khổng Mạnh thâm thúy sâu sắc, có một nhận thức rất đứng
đắn về nhiệm vụ, bổn phận, và vai trò của kẻ sĩ thanh liêm, nghiêm túc
đối với vua, với nước và với dân... Thơ ông rất thành thực, phát xuất tự
đáy lòng, tự nhiên, đượm đà tình yêu nước thương dân nồng nàn thắm
thiết, tình nhân-đạo vị tha bao dung… Thơ ông đã phản ảnh trung thựïc
đời sống của những người dân bị áp bức bóc lột dưới chế độ phong kiến
tàn bạo của giai cấp quan liêu thống trị … Thơ Đỗ Phủ là tiếng nói nhân
nghĩa đậm đà của chính lòng ông, gây lại một ấn tượng mãnh liệt làm xúc
động người đọc... Nỗi nhớ quê nhà của ông thấm thiết vô cùng khi mỗi độ
xuân về khi thấy những cây mai vàng đã bắt đầu hé nụ:
Tháng chạp mai hé nụ
Sang năm nở đầy hoa
Biết rằng ý xuân đẹp
Sao khách vẫn sầu a
Cây chung màu tuyết trắng
Gió vờn sóng sông xa
Vườn cũ tìm đâu thấy
Núi Vu cây rườm rà
(Giang Mai- Đỗ Phủ)
Cố quận quê hương ruột thịt thì mịt mùng xa cách, nỗi nhớ nhung nơi chôn
rau cắt rún khi phải sống cuộc đời lữ thứ tha phương... một nỗi buồn
mênh mông sâu lắng và dằng dặc vô cùng để nhà thơ phải khắc khoải tựï
hỏi "hôm nao mới được về nhà thăm quê?"… Bài thơ u hoài vương vấn một
nỗi buồn riêng mang khắc khoải và kín đáo:
Sông xanh càng trắng chim trời
Núi cao biếc thắm rạng ngời đỏ hoa
Thấy rằng năm hết xuân qua
Hôm nao mới được về nhà thăm quê?
(Tuyệt Cú 12 – Đỗ Phủ)
Thơ Đỗ Phủ đã biểu lộ tính cách hiện thực vì ông là nhân chứng của thời
đại đã tai nghe mắt thấy được những thảm họa chiến tranh, những nỗi bi
thương trầm thống của xã hội phong kiến bất công suy đồi, sựï xa hoa
trụy lạc của giai cấp thống trị quan liêu, và chính bản thân ông, đời
sống ông cũng đã trải qua những thăng trầm tang thương qua cuộc sống cơ
hàn, vất vả, và khốn khổ... Cuộc đời ông hầu như bôn ba tứ xứ nơi đất
khách quê người, nên ông đã chứng kiến thường xuyên những cảnh chiến
tranh chết chóc, những nhiễu nhương của xã hội và cuộc sống bần cùng,
không những của chính bản thân ông mà còn của những kẻ tha nhân không
quen biết …Ông đã không được may mắn, thành công trên con đường thăng
quan tiến chức như bao kẻ quyền sang biết luồn cúi và nịnh bợ triều đình
… Tính tình ông quá ngay thẳng. Ngay khi ông mất nơi đất khách quê
người, gia đình ông cũng không đủ tiền đem được linh cửu của ông về quê
vì quá nghèo... Có những bài thơ được sáng tác để ghi nhớ, hồi tưởng lại
một giai đoạn lịch sử nào đó, nhớ lại một thời vàng son nhung gấm, khi
nhà thơ đã nhập thế, làm quan, lo việc triều cung, nhưng đôi khi gặp
hoàn cảnh không may, không được thăng quan tiến chức, mà thất vọng chán
nản, đành thúc thủ an phận, chấp nhận số mệnh một cách tiêu cực theo đạo
lý Trung Dung: "Thượng oán bất thiên, hạ bất vưu nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh"
(Trên không oán trời, dưới không trách người, sống bình dị đợi mệnh)
Thơ của ông tràn đầy tình nhân đạo sâu sắc, yêu nước thương dân… Chính
thơ đã phản ảnh được cái chức năng "Thi ngôn chí", tức thơ đã nói lên
cái chí khí kẽ sĩ trong một giai đoạn lịch sử nào đó... qua bài thơ Xuân
Vọng
Mất nước, còn sông núi
Cây cỏ mọc thành xuân
Thương tình hoa tủi lệ
Biệt ly chim bần thần
Ba tháng tràn khói lửa
Thư nhà giá vô vàn
Tóc bạc ngày thêm ngắn
Cài trâm ắt phân vân
(Xuân Vọng – Đỗ Phủ)
Có những nhà thơ còn chút may mắn hơn Đỗ Phủ là đến cuối cuộc đời già,
đã đạt được cái hoài bão về thăm quê hương … HạTri Chương đi làm quan xa
nhà mãi đến năm 86 tuổi vì già ốm xin từ quan về quê. Sau hơn năm mươi
năm xa cách, ông mới về quê vào dịp xuân về, và ông đã cảm khái viết nên
bài Hồi Hương Ngẫu Thư (2 bài). Khi ra đi chỉ mang theo kỷ niệm dạt dào
và tình cảm gắn bó với quê nhà, mà sau bao nhiêu năm mải mê đeo đuổi sự
nghiệp công danh, vẫn cảm thấy tình quê hương là tình cảm thiêng liêng
cao quí chẳng hề đổi thay trong lòng dạ người thơ. Nhưng lúc về đến nhà
thì bao nhiêu cảnh vật, sự kiện đã đổi thay, đám trẻ quê nhao nhao vì
nghĩ rằng nhà thơ cũng chỉ là kẻ lạ lẫm từ phương trời nào xa lạ tạm ghé
qua đây. Cha mẹ thì đã qua đời từ lâu, còn bạn bè thì kẻ mất người còn,
tạo nên nỗi chán chường ảo não tuyệt vọng của nhà thơ trước cảnh biến
thiên của muôn sự, cuộc đời dâu bể tang điền thương hải mong manh vô
cùng, nên nhà thơ chỉ còn biết bám víu vào một hình ảnh bất biến đó là
sóng nước mặt hồ Gương vẫn còn nguyên vẹn với gió xuân phe phẩy, làm dịu
mát lòng người…
Trẻ ra đi, lão mới về
Tóc bông thưa thớt, tiếng quê dạt dào
Trẻ con lạ lẫm nhao nhao
Hỏi cười "Khách ở phương nào đến đây?”
Quê nhà xa cách tháng năm
Bạn bè thưa thớt biệt tăm phương trời
Mặt Hồ Gương trước ngõ soi
Gió xuân chắc chẳng đổi dời sóng xưa
(Hồi Hương Ngẫu Thư – Hạ Tri Chương)
Bài Tống Xuân Từ, phóng tác theo ý thơ Vương Duy gồm 4 bài : Tống Xuân
Từ, Điểu Minh Giản, Chung Nam Biệt Nghiệp, Võng Xuyên Nhàn Cư. Mùa xuân
trong Đường Thi là bức tranh thủy mạc màu sắc hài hòa, có những nhà thơ
tả cảnh thiên nhiên núi sông cây cỏ hoa bướm bằng những nét chấm phá đơn
sơ, mộc mạc, nhưng đó là những gam màu pha trộn của một nghệ thuật hội
họa tinh vi và sâu sắc... Bằng những tầm mắt xa rộng, họ đã cho chúng ta
thấy cái huyền diệu của thiên nhiên vũ trụ bao la, của hương vị Thiền và
Đạo man mác, của sựï thư thái và an nhàn để mà suy tư về sự vô thường và
hữu hạn của cuộc đời . Những hình ảnh linh động và âm thanh dạt dào
trong ngôn từ tinh vi cô động đã biểu hiệu cảm xúc chân thành, và gợi
lên những liên tưởng thâm thúy và tư duy mẫn cảm... Hãy lắng nghe tiếng
chim kêu lanh lảnh bên khe suối mùa xuân của thi sĩ Vương Du:
Người nhàn hoa quế rụng
Đêm xuân núi đìu hiu
Trăng lên chim thảng thốt
Khe xuân vọng tiếng kêu
(Điểu Minh Giản – Vương Duy)
Thi sĩ Vương Duy được gọi là Thi Phật và Họa sư, Tô Đông Pha đã nói về
thơ Vương Duy: "Trong thơ có họa, và trong họa có thơ " (Thi trung hữu
họa, họa trung hữu thi). Thơ của Vương Duy phản ảnh cái quan niệm của
Ông đã chịu ảnh hưởng Đạo Học và Phật Học, xem cuộc đời là ngắn ngủi phù
du vô thường như bóng câu bên cửa sổ, thoáng mây bay cuối trời, xem sự
nghiệp công danh như một tuồng vân cẩu, đã lấy tư tưởng vô vi xuất thế
để làm phương châm cho thực tại nhân sinh, khinh ghét thói đời đua chen
danh lợi, chối bỏ nếp sống quan liêu phong kiến áo mũ xêng xang… Vương
Duy đã chịu ảnh hưởng bởi cái quan niệm của Lão tử, đã dùng hình tượng
Đạo Lý để chi phối cái qui luật tự nhiên: “Người noi theo Đất, Đất noi
theo Trời. Trời noi theo Đạo. Đạo noi theo tự nhiên". Cái chế độ
phong-kiến của Trung Quốc đôi khi chỉ là một lớp son phô trương lòe
loẹt, một phồn vinh giả tạo, một tập đoàn bè phái vương tộc, những nhà
nho nhập cuộc với quan điểm "nhập thế hành đạo", nhưng đôi khi họ cảm
thấy chán nản vì không thực hiện được cái hoài bão to lớn của họ mà họ
ngán ngẩm thời thế, đành phải từ bỏ quyền cao chức trọng, để lui về ẩn
dật, vui thú điền viên, bỏ hết tục lụy trần ai, dùng ngòi bút ca ngợi sự
thanh nhàn theo quan điểm đạo Phật "xuất thế vô vi", hoặc cầu cứu đến
phép vô sinh, thuốc tiên huyễn hoặc phù phiếm… Thiên nhiên qua bốn mùa
hoa lá đổi thay là đề tài bất tận cho thi nhân.
Xuân đến và xuân đi như gió thoảng mây trôi… Xuân đến cho muôn hoa đua
nở, mạch sống tuôn tràn… Xuân đi cho hoa lá héo tàn, lòng người cô
quạnh, cảnh trời hiu hắt...Tuổi xuân cũng chỉ ngắn ngủi tấc gang, chẳng
sống được dài lâu... Xuân đã đi rồi đi đem lại nỗi sầu tàn phai, thương
tiếc, nhớ nhung như nhà thơ Vương Duy đã bộc bạch trong bài thơ Tống
Xuân Từ:
Già theo ngày tháng trôi nhanh
Năm quanh quẩn hết, xuân xanh đến hoài
Vui cùng cốc rượu mà say
Cần chi thương tiếc hoa bay ngoài trời
Tuy thế-giới Đường-Thi lớn lao và đồ sộ như vậy nhưng chỉ có một số ít
ỏi những bài thơ Đường ca tụng nghĩa Mẹ ơn Cha. Với một ý-thức-hệ
nho-gia phong-kiến, lấy "trung-hiếu" làm đầu, dựa trên nền tảng triết-lý
nhân sinh đại chúng và đạo-lý cương thường xã hội, trong một chế-độ
quân-chủ về chính trị và phụ quyền về xã-hội, mà chúng ta rất ngạc nhiên
khi thấy hiếm hoi những bài thơ ca tụng Tình Mẹ.
Bài thơ Du Tử Ngâm là một bông hoa hiếm hoi đã vươn mình khoe sắc rực rỡ
trong khu rừng Đường-Thi trùng trùng điệp điệp... Bài thơ có tính cách
nội dung giáo dục đề cao về chữ Trung Hiếu nầy, đầy trắc ẩn lòng nhân là
do sự ảnh hưởng của Đạo Nho , lấy Nho Học làm kim chỉ nam cho đời sống
tâm linh, đề cao cái tính Thiện: “Cái trời sinh ra cái Tính, noi theo
Tính gọi là Đạo, sửa mình theo Đạo gọi là Giác" hay theo quan niệm Khổng
Mạnh: "Nhân chi sơ tính bản thiện". Bài thơ Du Tử Ngâm (Khúc Ngâm Cho
Người Con Đi Xa) kết hợp bằng những giai-điệu rất hài hòa, âm thanh tình
mật thiết quyện vào nhau, đã diễn tả được những gì khăng khít nhất,
những khắc khoải lo lắng bồi hồi của người mẹ, sợ con đi xa lâu trở về,
trên bước đường viễn du không một bàn tay săn sóc, Mẹ chỉ mong sao cho
manh áo được dầy kín, để đủ sưởi ấm thân con trẻ trên bước đường tha
phương lưu lạc. Bài thơ với từ ngữ mộc mạc, giản dị, nhưng đã diễn đạt
được cái tận cùng của một bản sắc dân-tộc, một cội nguồn của nhân-bản:
Tình Mẹ, của một đời dầm mưa dãi nắng, của những chuỗi ngày triền miên,
cay đắng, chịu đựng, và đợi chờ…
Mẹ ngồi xe chỉ trên tay
Chắt chiu áo mỏng, đợi ngày con đi
Đường khâu mũi vá chi li
Băn khoăn lo lắng con đi lâu về
Hỏi rằng tấc cỏ lòng quê
Ba Xuân nắng ấm đền bù được chăng?
Phải chăng những nhà thơ Đường, trong cái sĩ-khí của nhà Nho, ngày đêm
dùi mài kinh sử để mong đến ngày thi đỗ ra làm quan, thực hiện cái hoài
bão "kinh bang tế thế, trị quốc an-dân...", hoặc nếu không thành đạt như
ý, họ bất lực chán nản buông xuôi và tự ẩn dật chìm mình trong tư tưởng
vô vi, hướng về những đề tài thiên nhiên, sơn thủy điền viên, với tư
tưởng "lạc thiên tri mệnh" (vui trời biết mệnh). Phải chăng họ đã mang
mặc cảm ngại phơi bầy những tình cảm gia đình mật thiết riêng tư, những
xúc động chân thành như tình Mẹ, vì bị ràng buộc bởi quan niệm nghiệt
ngã "trọng nam khinh nữ", "tam tòng tứ đức" đè nặng trong xã hội hủ tục
phong kiến, sợ người đời gán cho là kẻ yếu đuối, hèn nhác không phải là
bậc đại-trượng-phu trong thiên hạ ? Hình ảnh người phụ nữ trong xã hội
đó phải chăng chỉ là những chiếc bóng âm thầm, tủi nhục, mang cái thân
phận bèo bọt "chồng chúa vợ tôi", có nhiệm vụ tôi mọi nô bộc, chỉ biết
đầu tắt mặt tối làm việc và không được chia sẻ cái chân-lý căn bản của
lẽ sống gia-đình: hạnh phúc và tình yêu. Thật là thảm thương khi ta
mường tượng đến hình ảnh của người phụ nữ, một người Mẹ, một người vợ
trong cái xã hội quan-liêu bất công đó.
Vương Kiến với bài Vọng Phu Thạch, Lưu Vũ Tích với bài Vọng Phu Sơn,
Trương Tịch với bài Tiết Phụ Ngâm đã đề cao cái công dung ngôn hạnh của
người phụ nữ, ca ngợi cái phẩm chất tốt đẹp , đáng kính của người phụ nữ
như như đoan trinh, thủy chung, cần cù, nhẫn nại, và hy sinh của người
phụ nữ… Vọng Phu Thạch tức là Đá Trông Chồng. Chuyện xưa kể rằng ở thành
phố Vũ Xương, tỉnh Hồ bắc Trung Quốc, có một người vợ có chồng đi xa lâu
ngày không về. Hàng ngày nàng vẫn ra bến sông ngong ngóng đợi chồng về.
Người vợ kiên trinh vẫn giữ vững lòng chung thủy, vẫn chờ đợi, chờ hoài
nhưng người chồng vẫn không bao giờ trở về, và nàng đã hóa thành đá, vẫn
muôn đời chờ đợi chồng mặc cho gió mưa vần vũ. Hòn đá đó được đặt tên là
Vọng Phu Thạch, vẫn đứng sừng sững bên bờ sông Trường Giang, gần thành
phố Vũ Xương . Bài thơ nói lên cái nỗi sầu bi thảm của người thiếu phụ
trông chồng mòn mỏi, bấp chấp cả không gian và thời gian của vũ trụ mênh
mông nghìn trùng... Mặc cho gió táp mưa sa, mặc cho nắng quái mưa dầm,
khói sương mù mịt, mây phủ trên đỉnh non cao vời vợi... nhưng tình chung
thủy và lòng tiết trinh của người đàn bà vẫn muôn đời bất biến…
Bên sông ngồi ngóng trông chồng
Trăm năm khắc khoải một lòng sắt son
Hóa thân thành đá mỏi mòn
Gió mưa vần vũ... đầu không ngoảnh về
Phải chăng nàng giữ lời thề
Đến khi đá nói... lúc nghe chàng về!
Bài thơ Tiết Phụ Ngâm của Trương Tịch có màu sắc lãng mạn, nhưng đó là
một câu chuyện tình nhẹ nhàng và trong trắng, ca ngợi cái phẩm chất quí
giá đáng kính trọng của người phụ nữ, đó là tâm hồn đoan chính và tấm
lòng thủy chung, đậm đà màu sắc nghĩa tình, đạo lý... Trương Tịch là
người có nhận xét sâu sắc, ông đã dùng ngôn từ chân thật để diễn tả nỗi
khổ sở bất công của nhân dân, sự bóc lột tàn bạo của giai cấp thống trị,
ông đã dùng thơ văn để bênh vực phụ nữ, vạch trần những bất công của xã
hội đối với người phụ nữ, và luôn đề cao phẩm giá và tư cách của người
phụ nữ vốn đã chịu rất thiệt thòi...
Biết rằng em có chồng
Sao chàng vẫn chờ mong
Thương em chàng trao tặng
Đôi ngọc màu biếc trong
Em đeo giữa yếm hồng
Tình chàng ôi mênh mông
Cuồng si và tha thiết
Chất ngất tận cõi lòng
Nhà em ở lầu cao
Đêm vàng tuôn ánh sao
Hương hoa vườn ngự uyển
Thơm ngát tình chiêm bao
Chồng em giờ xa vắng
Canh gác đền Minh Quang
Tình chàng luôn quân tử
Trong sáng tựa trời trăng
Từ khi em lấy chồng
Luôn nhớ chữ tâm đồng
Nguyện thề cùng sống chết
Trọn kiếp đời thủy chung
Trả ai đôi ngọc sáng
Mắt em lệ chảy ròng
Xót xa mà tiếc nuối
Chẳng quen lúc chưa chồng
(Trương Tịch)
Một số ít bài thơ ca tụng tình yêu, mang tích chất lãng mạn, lẳng lơ,
mặc dầu rất ít oi, đã đem lại những luồng gió tươi mát, ngan ngát mùi
hương phấn dịu dang... Tình yêu trai gái cũng đã được đề cập trong nội
dung một số bài thơ Đường, nhưng đó là thứ tình cảm thanh tao tế nhị,
không vượt qua vòng lễ giáo, nhưng cũng không kém rạo rực, xao xuyến…
Qua ngòi bút của thi nhân họ đã khắc họa hình ảnh của những thiếu nữ hồn
nhiên, với những cảnh ngộ trong cuộc sống của họ, thành những áng thơ
đẹp ca tụng tình yêu đẹp, nhẹ nhàng và hồn nhiên, sâu sắc và thiết tha,
trong trắng, hồn nhiên, tế nhị chan chứa những cảm xúc chân thật lành
mạnh, biểu tượng cho một niềm hạnh phúc cao cả và thanh khiết . Lý Bạch
với bài thơ Trường Can Hành, Bạch Cư Dị với bài Tỳ Bà Hành , Lương Ý
Nương với bài Trường Tương Tư, Thôi Hộ với bài thơ Đề Đô Thành Nam Trang
là những đóa hoa kiều diễm trong vườn thơ tỏa đầy hương sắc ca tụng tình
yêu muôn thuở.
Lý Bạch đã dùng ngòi bút tuyệt vời để miêu tả về tình yêu, là một đề tài
mà ít người muốn viết dưới chế độ phong kiến Trung Quốc, vì những quan
niệm nghiệt ngã "văn dĩ tải đạo”, “trọng nam khinh nữ , “ tam tòng tứ
đức", “ tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"… hoặc những
hủ tục bất nhân vì cái nhìn lệch lạc của giai cấp thống trị, tầng lớp
quí tộc đầy quyền uy tối thượng. Thân phận của người phụ nữ bấp bênh
"mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu". Bài thơ "Trường Can Hành" của
Lý Bạch đề cao tình yêu lãng mạn đối với người con gái đẹp, là một trong
những bông hoa quí hiếm có trong khu vườn Đường Thi trùng trùng điệp
điệp…
Gió thu rụng lá đầy
Bướm bay vàng tháng tám
Dập dìu cỏ phía tây
Cảnh buồn thiếp xót xa
Hồng nhan thương phận già
Khi nào đến Tam Ba
Chàng ơi gửi thư nhé
Em chẳng ngại đường xa
Hẹn đón Trường Phong Sa
(Trường Can Hành - Lý bạch)
Đời hậu Chu, thời Ngũ-Quí ở tỉnh Hồ Nam vùng sông Tiêu Tương có nàng Ý
Nương vừa đẹp lại hay chữ. Ở trọ nhà nàng có chàng Lý Sinh hàn sĩ phong
lưu tuấn tú. Một đêm Trung thu hai người thưởng trăng gặp nhau trai tài
gái sắc tâm đầu ý hợp nên sau đó thường hay lui trao đổi tâm tình. Cha
của Ý Nương là Lương Công hay biết tức giận đuổi Lý sinh đi. Ý Nương lấy
làm đau đớn sinh bịnh mới làm khúc Trường Tương Tư mong gởi nguồn tâm sự
cho người yêu. Lý Sinh nhận được bài thơ cảm xót vô cùng đầm đìa nước
mắt nhờ người mai mối đến năn nỉ với Lương Công xin hỏi cưới Ý Nương.
Ban đầu Lương Công còn dùng dằng sau đọc được bài thơ của con gái mình,
cảm động chấp nhận cho hai người thành duyên...
Tương Tư là như thế đó, là nhớ nhau da diết, bâng khuâng xao xuyến, là
khát khao giao cảm, là bước chân hụt hẫng giữa mộng và thực trong cái
xúc động vô bờ của tình yêu tha thiết, là những đau khổ dằn vặt vì nhớ
nhung, lo lắng, giận hờn, ghen tuông, hoài nghi, là những sầu hận luyến
tiếc vì lỡ làng, trăn trở, hoài niệm... Chính những cái đau khổ đó là
chất men để làm những áng thơ tình mỹ lệ, ngây ngất, dậy sóng, thành
những âm thanh huyền diệu vang mãi trong lòng, dào dạt và nồng nàn… Đau
khổ vì tương tư là cái cảm xúc huyền hoặc không thể thiếu được để làm
xao động tâm tư, tạo sự xung đột nội tâm của người nghệ sĩ.
Sông Tương thăm thẳm đáy sâu
Tương tư da diết nỗi sầu hơn sông
Sông có đáy dễ dò sông
Sầu tương tư chỉ mênh mông vô bờ
Đầu sông chàng đứng thẫn thờ
Bẽ bàng mình thiếp đợi chờ cuối sông
Nhớ thương xa cách mịt mùng
Nước sông thắm thiết ta cùng uống chung
(Trường Tương Tư - Lương Ý Nương)
Tỳ Bà Hành là một bài thơ cổ kính, súc tích, lồng vào một câu chuyện thi
vị, tạo ra một âm hưởng nhạc thơ nhẹ nhàng, tha thiết làm xao động lòng
người. Cái thân phận bèo bọt của người đàn bà đã dùng tiếng đàn để bộc
lộ nỗi than oán và uất hận của mình… Bạch Cư Dị là nhà thơ đã mạnh dạn
đề cập đến giá trị của người phụ nữ , cái bất công của xã hội phong kiến
đối với vai trò của người phụ nữ... Bạch Cư Dị đại diện cho dòng hiện
thựïc phê phán vì ông đã trải qua một giai đoạn lịch sử đen tối với chế
độ quan liêu phong kiến đồi trụy và Bạch Cư Dị đã dùng thi ca với những
lời lẽ giản dị thành thựïc để mạnh dạn đấu tranh và tố cáo những hành vi
áp bức, sự bất công trong xã hội, vạch trần sựï bóc lột của bọn quan lại
quý tộc. Thơ của ông phản ảnh được nỗi lòng và cảnh trầm luân thống khổ
của dân chúng trước thế sựï thời cuộc ba chìm bảy nổi...
Bạch Cư Dị chủ trương đổi mới thi ca, ông muốn thi ca phải gắn bó với
đời sống, phản ảnh hiện thực xã hội, tràn đầy tư tưởng nhân đạo, nhân
văn . Bạch Cư Dị đã nói Làm văn phải vì thời thế mà làm, làm thơ phải vì
thực tại mà viết" (Văn chương hợp vi thời nhi trước, thi ca hợp vi sự
nhi tác). Thơ Bạch Cư Dị mang tính hiện thực . Bài Trường Hận Ca của ông
diễn tả mối tình đẹp của Đường Minh Hoàng và Dương Quí Phi, nhưng cũng
có những ý tưởng sâu sắc thầm kín mỉa mai …
Bài Tỳ Bà Hành của ông theo lối " thuật hoài" (miêu tả), cảm ngộ, để gửi
gắm tâm sự, nỗi buồn riêng tư thầm kín của tác giả như một người mang số
phận hẩm hiu để mà thông cảm xót thương như người ca nữ trong câu
truyện, gặp nhiều cảnh éo le, không may mắn trên đường đời Bài thơ ngân
vang một cảm xúc ngậm ngùi, một nỗi buồn thắm thía... Đó là những lời
bộc bạch chân tình, nói lên cái tâm huyết của một người trí thức muốn
bày tỏ tấm lòng ưu thời mẫn thế, cũng như nỗi bi phẫn của tác giả bị
chèn ép , bạc đãi trong một xã hội phong kiến đầy dẫy bất công... Nhà
thơ đã tìm thấy một tâm hồn đồng điệu, một nghĩa tương thức tri âm qua
người kỹ nữ gặp trên sông Tầm Dương.
Bến Tầm Dương lạnh lá phong rơi
Tiễn khách sang sông luống ngậm ngùi
Sóng nước mênh mông làn khói bạc
Đàn ai dìu dặt điệu chơi vơi
Mỗi tiếng đàn rung thấm thía sầu
Dạt dào âm điệu khóc mưa ngâu
Tỉ tê như trút niềm tâm sự
Sướt mướt tình riêng hạt lệ châu
Ngập ngừng khoan nhặt tiếng tơ vàng
Líu lót oanh ca suối ngỡ ngàng
Tung tóe muôn vàn tia nước vỡ
Ngỡ ngàng tiếng lụa xé kêu vang
Tỳ bà em dạo tuổi mười ba
Một thuở vàng son đã khuất xa
Nhan sắc tàn phai mình với bóng
Thuyền trôi sông tẻ lạnh trăng tà
Có một đêm nằm tỉnh giấc mơ
Lệ hồng má phấn nhạt phai mờ
Tuổi xuân nay đã thành mây khói
Thổn thức đàn khuya khóc ngẩn ngơ
Thuyền trăng lơ lửng nước xuôi giòng
Nhịp gõ đàn ngân tiếng não nùng
Dạ khúc tỳ bà chan chứa lệ
Ngậm ngùi ly khách khóc rưng rưng…
(VNL phóng tác theo ý thơ Tỳ Bà Hanh- Bạch Cư Dị)
Bài thơ Đề Đô Thành Nam Trang của Thôi Hộ là một giai thoại văn học nói
lên một mối tình xuân muôn thuở... Hình ảnh của người đẹp với má hồng
ưng ửng đứng tựa cây đào rực rỡ thắm tươi dưới muôn vàn tia nắng như vui
đùa nhảy múa trong trí tưởng của người thơ, tạo nên một hấp lực vô hình
thôi miên quyến rũ và mê hoặc người thơ, càng nhìn càng đắm đuối say mê…
Rồi cũng đến giờ phút từ giã chia tay … Nỗi nhớ tha thiết dâng trào khôn
nguôi đã thôi thúc người thơ về lại chốn cũ để tìm lại người xưa… Cũng
vẫn là cảnh đó … gợi sầu da diết, cảnh còn đây, mà người ở đâu? Hoa vẫn
nở vẫn thắm tươi khoe sắc như muốn bỡn cợt với gió đông, và dửng dưng
với nỗi bồi hồi nhung nhớ của người thơ...
Năm ngoái hôm nay cũng cửa nầy
Hoa đào má phấn đỏ hây hây
Người đi đâu mất, còn hoa đó
Ghẹo gió đông cười hoa ngất ngây
(Đề Đô Thành Nam Trang – Thôi Hộ)
Một bài thơ tình mang gốc huyền thoại thần tiên mà người đời vẫn còn ưa
thích, đã trở thành điệu hát ca trù rất phổ biến đó là Lưu Nguyễn Du
Thiên Thai. Chùm thơ "Thiên Thai" của Tào Đường gồm có 5 bài. Câu truyện
kể rằng : vào thời Vĩnh Bình (58-76) vào đời Hán Minh Đế, nhân Tiết Đoan
Ngọ, hai chàng trai Lưu thần và Nguyễn Triệu lên núi Thiên Thai (tỉnh
Chiết Giang) để hái cây thuốc, và hai chàng đã gặp được hai tiên nữ, mời
Lưu Nguyễn về nhà tiếp đãi ân cần và họ đã kết duyên vợ chồng. Ở đây
được chừng nửa năm, Lưu Nguyễn nhớ gia đình và quê làng nên muốn xuống
núi về nhà. Hai Tiên nữ lưu lại không được, rồi cũng phải tiễn biệt hai
chàng đi . Hai chàng về đến quê làng, mới biết trần gian đã trải qua bảy
đời người, và không ai nhận ra mặt được, chỉ có người cháu bảy đời kể
lại là có Cụ Tổ đã vào núi hái thuốc và không bao giờ thấy trở về nữa.
Hai chàng không còn gia đình và nơi chốn để nương tựa, muốn trở về núi,
nhưng tìm đường không ra. Cuối cùng người ta không biết hai chàng lưu
lạc về đâu...
Gãy khúc nghê thường chẳng có ai
Mộng trần đâu biết mộng tiên dài
Trời riêng góc động xuân thanh vắng
Nẽo khuất dương trần nguyệt úa phai
Khe thắm cỏ tiên vờn cát ngọc
Suối thơm đào ngát nước xanh trôi
Mỏng manh sương sớm đèn trong gió
Muốn gặp chàng Lưu biết hỏi ai?
Lại tìm Tiên Nữ động Thiên Thai
Đá trắng rêu xanh bụi phủ đầy
Lặng lẽ hang sâu im tiếng nhạc
Đìu hiu xóm quạnh vắng chim bay
Tàn phai sắc cũ hờn cây cỏ
Hờ hững xuân xưa chạnh khói mây
Nước chảy hoa đào phơ phất đó
Cố nhân hầu rượu chẳng còn đây!
(Tào Đường)
Nhà thơ chẳng khác gì một viễn khách đi truy tầm cái diễm lệ của thơ ở
nơi chốn bồng lai tiên cảnh, đi tìm cái cung đàn muôn điệu qua tiếng sáo
Thiên Thai, tiếng hót của chim oanh trên cành liễu… có năng lực cảm thụ
tinh tế, hữu hình hóa những cái trừu tượng mơ hồ, tạo ra vô số cảm giác,
muôn vàn hình ảnh… Những hình tượng và liên tưởng nối liền nhau, tạo sự
hài hòa giữa ý từ, màu sắc, âm thanh, gây những âm vang chấn động lòng
người đọc. Hồn thơ Đường đã mở ra những cánh cửa của tâm hồn để bay bổng
hòa mình với không gian bát ngát của vũ trụ muôn trùng.
Xuân Tiêu Vọng Hàn Giang:
Trong cuộc lữ hành đi tìm cái thâm thúy của khung trời Đường Thi, dạt
dào những hình ảnh sinh động phong phú, đầy những cảm xúc, âm điệu, rung
động, sâu sắc, chân thật và nồng nàn... Tác giả Hải Đà VNL có lẽ đã cảm
thụ được cái hay cái đẹp, những nét thanh tao tinh tế của Thơ Đường, và
muốn tự gửi gắm cái tình ý sâu thẳm xôn xao khó tả của mình qua bài thơ
Đường "Xuân Tiêu Vọng Hàn Giang" (Đêm Xuân Nhớ Sông Hàn). Phải chăng đó
là nỗi niềm của người thơ trên bước đường phiêu bạt, đến một lúc nào đó
cảm thấy đơn lẻ, để muốn tâm hồn của mình chấp cánh bay bổng về nơi chôn
nhau cắt rún… nơi đó có dòng sông của muôn vàn nỗi nhớ xôn xao, mênh
mông sóng nước chập chùng. Con sông đó có tên là Sông Hàn (Hàn Giang) ở
Đà Nẵng mà tác giả đã trải qua thời thơ ấu mến yêu với muôn vàn kỷ niệm
luyến lưu, cồn cào xao động lòng kẻ xa nhà đã lâu. Tác giả đã mạo muội
sáng tác bài thơ Đường "Xuân Tiêu Vọng Hàn Giang". Rồi VNL đã tâm sự với
một số vốn nhỏ bé về Hán Học, học ở truờng, học từ thân phụ vốn là nhà
nho, và tự tìm tòi học hỏi thêm, nên cảm thấy có nhiều thiếu sót và mong
các cụ túc nho trưởng thượng, tiền bối cao kiến và bạn đọc yêu thơ nhạc
muôn phương lượng thứ và thông cảm nếu có sự thiếu xót và bất cẩn trong
việc thực hiện cái đam mê thi ca của anh VNL. Tác giả xin chân thành gửi
lời cảm tạ.
Xuân Tiêu Vọng Hàn Giang
Phong xuy lạc diệp động sầu âm
Nguyệt chiếu hà lương khách tứ thâm
Hỷ vũ hỷ hoa vô hỷ sắc
Hàn Giang hàn thủy bất hàn tâm
Tha phương uẩn nộ phi nan giảm
Cố quận nhân yên bất khả tầm
Tịch mịch xuân tiêu cô đối ảnh
Hương quan bán dạ Việt thi ngâm
Hải Đà
Dịch nghĩa:
Gió thổi lá rơi vọng tiếng sầu
Trăng chiếu cầu bên sông làm khách nhớ nhà da diết
Mưa vui, hoa vui, nhưng mặt chẳng vui
Sông lạnh, nước lạnh, nhưng lòng không lạnh
Ở phương xa, nỗi sầu giận khó giảm đi
Quê cũ khói lam dễ đâu mà tìm thấy
Qụanh quẽ đêm xuân một mình thân với bóng
Nhớ nhà nửa đêm ngâm nga bài thơ Việt
Thơ dịch Hải Đà
Đêm Xuân nhớ Sông Hàn
1-
Lá rơi gió thổi tiếng sầu vang
Trăng chiếu cầu sông khách bẽ bàng
Mưa thuận, hoa cười, đâu sắc thắm
Lạnh sông, buốt nước, chẳng khô lòng
Tha phương uất hận nào thuyên giảm
Cố quận khói mờ há dễ trông
Quạnh quẽ đêm xuân thân với ảnh
Khuya ngâm thơ Việt nhớ quê làng
2-
Lá rơi gió thổi sầu ngân
Cầu sông trăng chiếu bần thần khách xa
Mặt buồn dẫu có mưa hoa
Lạnh sông lạnh nước… khó mà lạnh tâm
Hận sầu viễn xứ trầm ngâm
Mịt mùng cố quận khói lam khó tìm
Một mình với bóng lặng im
Nửa đêm thơ Việt vịnh ngâm nhớ nhà…
Hải Đà
Bàn về việc dịch Thơ, một học giả Trung-Hoa cho rằng việc dịch thơ cần
phải dựa trên ba yếu tố căn bản và thiết yếu là " Tín, Đạt, Nhã":
"Tín" là đòi hỏi phải trung-thành với nguyên-bản của bài thơ, cần nghiền
ngẫm chu-đáo kỹ lưởng, tìm hiểu lai lịch gốc tích, ý nghĩa của từng từ
ngữ, cũng như điển tích của từ ngữ thơ , để cảm nhận nét hay vẻ đẹp của
bài thơ gốc.
"Đạt" là đòi hỏi chính xác và thành đạt như bài thơ gốc, đúng như tư duy
và cảm nghĩ, ý tưởng của tác giả bài thơ.
"Nhã" nghĩa là trang-nhã, đẹp và hay, đọc bài thơ dịch cần có âm điệu,
đọc lên gây sự rung cảm sâu xa cho người đọc.
Nhưng nếu theo đúng khuôn mẫu, phép tắc của ba yếu tố "Tín, Đạt, Nhã"
thì e rằng việc dịch thơ sẽ khó khăn vô cùng... Cho nên dịch thơ đôi khi
cũng cần sự phóng khoáng, cởi mở và không phải gò bó theo đúng khuôn
phép, tuy nhiên tránh việc làm lệch lạc "ý" của bài thơ gốc , nghĩa là
phải lựa chọn chữ để đem được cái "ý tưởng", "tâm hồn" và "thần sắc''
vào bài thơ dịch, để độc giả khi đọc bài thơ đó tự-nhiên có cảm tưởng
biết ngay cái nguồn gốc của bài thơ dịch là từ đâu... Chứ không thể thêm
thắt bừa bãi để biến thành "dịch" là "phản" thì thật là bất công và vô
tâm đối với tác-giả bài thơ gốc. Thơ không phải là ngôn ngữ của "khoa
học" (một cộng với một là hai) mà thơ là nguồn tinh-khôi của cảm nhận và
ý tưởng hòa đồng, và từ sự vật cụ thể để dẫn dắt đến cái trừu tượng bao
la khó diễn tả, không thể sờ, mó, ngửi... mà chỉ cảm nhận bằng tâm hồn
và cảm xúc. Thơ là một ngôn ngữ của trực quan, có sức truyền cảm mãnh
liệt. Sở dĩ chúng tôi xin nêu ra vài quan-điểm về sự dịch thơ để tìm một
giải đáp có thể chấp nhận trong việc tìm hiểu và giải thích ý nghĩa
những từ ngữ. Từ những sự thể nhỏ bé ở trong cái không gian bao la của
vũ trụ, nhờ có một tâm hồn thơ, một tinh thần ung dung tự tại, thi-nhân
mới có thể cảm nhận và chiêm nghiệm và từ đó đưa đến sự hình thành những
câu thơ vi diệu và độc đáo, chi phối mãnh liệt tâm hồn người đọc, và dẫn
dắt người đọc thơ đi "dạo" chơi giữa cái lâng lâng vô cùng ... mà không
hề hay biết... "Đất trời vô cùng tận, kiếp người tựa sương mai" - "Thiên
địa vô cùng cực, nhân mệnh nhược triêu sương (Tống ƯngThị của Tào Thực )
Một đặc trưng khác của thơ Đường là "thiên, địa, nhân" nối kết và liên
hợp và con người chỉ muốn hòa nhập, gắn bó mật thiết vào không gian và
thời gian diễn tả trong bài thơ . Đi vào cõi thơ là những bước chân hụt
hẫng chênh vênh giữa tịnh và động, giữa cụ thể và trừu tượng, giữa xác
thực và mơ hồ...
Một bài thơ Đường khi đã đạt đến mức độ toàn mỹ và trác tuyệt, mỗi một
chữ, một lời, một ý như những viên ngọc quí đã được kết hợp hài hòa, chi
ly, để hình tạo một chuỗi kim cương lấp lánh, một dải giai-chương tuyệt
vời... Vì lòng đam mê văn chương và thi ca, tác giả mạo muội chỉ xin
mượn ý và phỏng dịch từ Thơ ra Thơ. Vì phải giữ cấu tứ, âm điệu, thể
cách, luật bằng trắc nên chắc chắc có rất nhiều thiếu sót vì nhiều chữ
không được sát nghĩa, khó lột đúng tinh thần nguyên tác, cái khó khăn là
phải giữ cái hồn thơ và ý thơ của nguyên bản, và đồng thời thi điệu của
bài thơ dịch. Hơn nữa có một số chữ và câu trong bài thơ Đường sau nhiều
lần trước tác, biên soạn, đã tam sao thất bản, gây sự sôi động bàn cãi
nhiều lần.
Những bài thơ Đường nguyên tác trong CD "Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng" này
đã được rất nhiều nhà chuyên khảo Hán Học uyên bác, các học giả tiền bối
Việt Nam, và các thi sĩ say mê Đường Thi đã dịch với những bản dịch
nguyên tác trác tuyệt, phong phú và tài hoa. Mỗi dịch giả có một cách
nhìn riêng về bài thơ nguyên tác, có một phong cách sáng tạo và cách
dịch thâm thúy khác nhau dưới các khía cạnh thưởng ngoạn đa dạng với
những nhận thức tinh tế, những cảm xúc nghệ thuật và rung động thẩm mỹ
muôn chiều khi đọc, ngâm, vịnh một bài thơ Đường, và đã làm thêm phong
phú và tăng gía trị của một bài thơ Đường. Người đi sau bao giờ cũng có
cái may mắn là học hỏi được nhiều kinh nghiệm các vị tiền bối trưởng
thượng.
Những bài thơ phóng tác trong CD nay sở dĩ được hình thành là do lòng
đam mê, đắm say vì văn chương nghệ thuật, đó là kết quả của tấm lòng
thích thú yêu thơ nhiệt thành, của sự tìm tòi học hỏi vì đam mê… vì tôi
nghỉ rằng tác giả vốn biết rằng dịch Thơ Đường là một công việc rất công
phu, tỉ mỉ đòi hỏi sự uyên bác về chữ Hán, kiến thức thâm sâu về văn hóa
cổ xưa, cái mà Việt Hải không dám mơ ước tới và chính tác giả chỉ cũng
nhìn nhận là "hậu sinh" với cái vốn tự học chắc hẳn còn thiếu sót rất
nhiều để làm công việc nghiên cứu, dịch thuật này. Cũng may thay có rất
nhiều học giả uyên bác, những thi sĩ tiền bối thâm nho, đã dịch trước
rất nhiều bài thơ Đường ra chữ quốc ngữ như nguồn tài liệu tha kkhảo
thật là giá trị… cũng như tác giả đã được gặp gỡ vài bậc thâm nho xem
như những bậc Thầy để được học hỏi thêm, cũng như giải thích những ý
nghĩa của những bài thơ hoặc điển tích mà tác giả tự nhận chưa có đủ khả
năng, cũng như một số bạn bè thân đã trao đổi thảo luận về thú vui này,
cũng như đã cung cấp cho tác giả một số tài liệu văn học quí báu rất cần
thiết cho việc tham khảo. Tác giả VNL nói là anh rất tri ân những sự
hiểu biết và phổ biến của các bậc thầy nho học tiền bối, cũng như những
bạn bè thân thiết đã giúp đỡ, khuyến khích cho CD này được hình thành…
và chắc hẳn không tránh khỏi nhiều khiếm khuyết, sai sót về ngôn ngữ và
ý từ...
Việc phóng tác thơ Đường là điều cần thiết để Nhạc sĩ Mai Đức Vinh phổ
thành nhạc, những bài thơ ngắn gọn, súc tích chỉ có 4 câu như Phong Kiều
Dạ Bạc, Đề Đô Thành Nam Trang, Tĩnh Dạ Tứ , Du Tử Ngâm, Vọng Phu Thạch…
tác giả cần tìm hiểu bối cảnh, thời gian, không gian của bài thơ, mà dưạ
theo đó phóng tác thêm lời, vì lời rất cần thiết cho một bản nhạc thành
hình. Cũng có những bài thơ đã đủ lời cho bản nhạc như Tiết Phụ Ngâm,
Trường Can Hành. Hoặc những bài thơ dài quá như Tỳ Bà Hành, mà bài thơ
nguyên Tác gồm 88 câu 7 chữ, nên tác giả chỉ đưa những ý chính để cô
đọng thành bài thơ phổ nhạc chỉ gồm 24 câu , hoặc 1 chùm thơ của Lưu
Nguyễn Du Thiên Thai (5 bài), nhưng tác giả chỉ dùng 24 câu , lấy từ mỗi
bài thơ nguyên tác 4 câu… Có những bản nhạc tác giả đã tổng hợp lời của
những bài thơ ngắn khác nhau nhưng có chung một ý từ để làm lời cho toàn
bản nhạc như bài Vọng Xuân Từ, Thu Phố Ca…
Kết Luận:
Thế giới Đường Thi là một bức tranh thủy mạc hài hòa với những con chữ
lẫn hồn thơ, ý nhạc là một sự phối hợp tuyệt tác giữa các màu sắc tuyệt
mỹ và âm thanh trầm bổng làm quyến rũ người thưởng ngoạn vô cùng… Trên
thi văn đàn Trung Quốc, mỗi một thi-sĩ có một cá tính sắc thái riêng
biệt, một phong cách và khuynh hướng khác nhau... Kho tàng của Đường Thi
chất ngất vô vàn, như khu rừng trùng trùng điệp điệp đầy hoa thơm cỏ lạ…
Những người yêu thơ nhạc dầu ở cách xa nhau ngàn dặm, không nói, mà vẫn
có những điểm tương đầu ý hợp khi cảm xúc được một bài thơ hay, một câu
thơ đẹp, một ý thơ thâm thúy, một âm điệu nhạc trầm bổng xao xuyến nào
đó trong tôi. Nếu cho tôi chọn một thi sĩ làm thơ Đường, VH xin đề nghị
thi sĩ Hải Đà Vương Ngọc Long và tương tư nếu cho tôi chọn một nhạc sĩ
phổ thơ Đường, VH xin đề nghị tiếp là nhạc sĩ Mai Đức Vinh. Một nhà thơ
Pháp nào đó đã nói: "La poésie, art suprême, c’est la musique qui pense
et la peinture qui se meut" (Thơ là một nghệ thuật cao cả, là âm nhạc
biết suy tư và bức họa có sinh động).
Nhạc sĩ Mai Đức Vinh và thi sĩ Vương Ngọc Long nhắn nhủ là hai anh mong
mỏi đóng góp một chút tình đam mê thơ nhạc vào vườn hoa văn nghệ thi ca
và văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Mong quý vị và các bạn thích bộ môn thi
ca và âm nhạc giao duyên nên có một dĩa CD để tìm hiểu công trình sáng
tạo bằng tim óc của hai nghệ sĩ này.
Việt Hải, Los Angeles.
|
|