Chuyện
Xưa Cầu Cá
“Tôi viết lên đây với tất cả chân thành của
lòng tôi trao em.
Ngày nào đã quen nhau, vì chung hướng đời,
mình trót trao nhau nụ cười.
Và tình yêu đó, tôi đem ép trong tim,
Dù bụi thời gian có làm mờ đi kỷ niệm của hai
chúng mình.
Tôi cũng không bao giờ, không bao giờ quên em…”
Vâng, đó là chuyện tình của tôi và Thùy Dung rất
đẹp và lưu luyến như khúc hát “Không Bao Giờ Quên Em” của nhạc sĩ Hoàng
Trang. Chuyện bắt đầu khi chúng tôi chia nhau mối tình hàng xóm trên con
đường Phan Thanh Giản năm xưa. Thùy Dung là cô láng giềng của tôi, nàng
nhỏ hơn tôi nhiều tuổi. Khi trước, tôi quen với chị nàng. Chị nàng sang
Pháp du học, theo thời gian qua tôi buồn bã, nàng thế chị nàng trong sự
trống vắng của tâm hồn tôi.
Ngày bi thảm 30-04 đến, gia đình hai chúng tôi đều
chia chung số phần hoạn nạn chia ly, đồng khổ như nhau. Cha tôi đi tù
ngoài bắc Việt. Cha nàng may mắn hơn thoát thân ra xứ ngoài, chị nàng
bảo lãnh sang Pháp. Mẹ tôi thấy tình trạng Sài Gòn khó sống nên bà quyết
định dọn về quê tôi, là Tây Ninh. Sau đó mẹ tôi rủ mẹ Thùy Dung dọn theo
về Tây Ninh dễ sinh sống hơn tại Sài Gòn. Mặc dù cha nàng khuyên đem gia
dình về Long An. Mẹ nàng xem mẹ tôi như người chị lớn của bà. Hai bà
thật sự mến nhau, mẹ Thùy Dung đưa gia đình bà theo.
Hiếu Thiện là một quận trong tỉnh Tây Ninh, nó còn
có tên là Gò Dầu Hạ, từ đây lên Gò Dầu Thượng không xa lắm và sẽ sang
biên giới xứ Chùa Tháp Cao Miên. Mẹ tôi có ý định như vượt biên tìm tự
do hay sao đó mà bà muốn đem con cái về đây. Là con trai lớn tôi phụ mẹ
nhảy ra đi làm kiếm tiền lo cho gia đình. Tôi được người chú bà con cho
một chân giúp việc là thợ hàn gió đá. Khi CS về người ta sử dụng xe đạp
làm phương tiện di chuyển nhiều hơn, chúng tôi hàn sườn xe đạp, xe
Lambretta chở hàng, xe đò là những mối hàng thường xuyên. Về phần người
bạn láng giềng của tôi thì Thùy Dung về quê tôi thì mẹ nàng vốn khéo tay
mở quán ăn tạm thời sinh sống. Về sau này chị nàng từ Pháp gởi tiền mẹ
phụ giúp, nên mẹ nàng mở tiệm may vá. Rồi Thùy Dung giúp mẹ công tác may
vá ngoài giờ học ra.
Có những chiều chúng tôi hai đứa đạp xe đạp băng
qua cầu đúc sắt uy nghi ở khúc sông Vàm Cỏ Đông trên tuyến đường lên Gò
Dầu Thượng, hai bên bờ đê, đồng cỏ xanh tươi, ruộng vườn bát ngát, sao
mà quá thơ mộng trong tôi! Chúng tôi thường ghé vào quán nước gần bên bờ
sông, mà tôi nhớ có hàng cây dừa bao quanh nó, nên chủ quán cho luôn nó
cái tên quán là "Cây Dừa", phía sau quán là những bàn ghế cho khách ngồi
ngắm cảnh bờ sông thiên nhiên, phong cảnh xung quanh thật trữ tình, nó
lôi cuốn hấp dẫn những buổi hẹn hò trai gái như chúng tôi. Chị chủ quán
rât vui tính, rất văn nghệ cho chúng tôi nghe lén “nhạc vàng” thõa
thích khi quán vắng khách, những bài nhạc mà các ca sĩ Thanh Tuyền,
Phương Dung hay Giao Linh được người dân hiền lành thôn quê yêu thích
lắm. Thùy Dung yêu âm nhạc, nàng thường yêu cầu ca hai bài nhạc tủ của
nàng là “Sao chưa thấy hồi âm” của nhạc sĩ Châu Kỳ và bài “Không bao giờ
quên anh” của nhạc sĩ Hoàng Trang. Những chiều vắng bên kỷ niệm xưa ngồi
cạnh hàng dừa sát mé sông có gió thổi mát rượi tâm hồn. Tôi mượn anh chủ
quán cây đàn guitar, tôi thường đàn ca cho Thùy Dung nghe.
“Theo năm tháng hoài mong
thư gởi đi mấy lần
đợi hồi âm chưa thấy
em ơi nhớ rằng đây
còn có anh đêm ngày
hằng thương nhớ vơi đầy
Ngày đi mình đã hứa
toàn những lời chan chứa
còn hơn gió hơn mây
mỗi tuần một lần thư
kể nghe chuyện sương gió
kể nghe niềm ước mơ
Nhưng anh vắng hồi thư
thế là em hững hờ
hoặc là em không nhớ
anh đâu khác người xưa
ngày lẫn đêm mong chờ
tình yêu nói sao vừa
Từ lâu đành xa vắng
đời trăm ngàn cay đắng
hỏi em có hay không
chỉ cần một hồi âm
là anh mừng vui lắm
cớ sao em phụ lòng...”
(“Sao chưa thấy hồi âm”, Châu Kỳ)
Thùy Dung chăm chú nhìn tôi mà nàng trông xao
xuyến trong nét xinh xắn của lứa tuổi vừa lớn. Ngày xưa tôi quen với chị
nàng, nàng còn bé lắm. Chị nàng xuất dương du học có người khác rồi quên
tôi. Tôi thất tình chị nàng một thời gian dài. Có những chiều lúc trước
75, tôi vác đàn ra trước hiên nhà ca như đi trên dòng sông Tương, mà
lòng tưởng nhớ đến người yêu cũ. Có lẽ vì thấy tôi chung thủy với chị
nàng nên nàng thương tôi chăng ? Dù sao có Thùy Dung đã lấp cái khoảng
trống hư không trong tâm hồn tôi, nàng cho tôi quên bớt đời sống cô đơn
này, nhất là hoàn cảnh của xã hội mới xung quanh tôi. Nàng cho tôi hình
ảnh của chị nàng. Nàng giống chị nàng trong gương mặt, đôi mắt, làn tóc
và nụ cười. Tôi nhủ thầm đó là tất cả những gì tôi cần nàng trong tim
tôi.
Đời sống ở quận lỵ nhỏ rất dễ thương vì mọi người
như quen biết nhau, thân nhau, tình cảm đậm đà hơn, không như ở đô thị
lớn vốn đông đúc, xô bồ. Nhóm bạn chúng tôi vài đứa lui tới trao đổi tin
tức thân nhân nước ngoài mà mơ ước có dịp vượt biên tìm tự do. Một hôm
anh Sơn, người anh bà con tôi câu được mấy con cá lóc, anh cho nướng cá
bao đất sét. Món cá lóc nướng cuốn bánh tráng vẫn là món ngon đặc sản
đồng quê, khi mà bao thứ rau ghém xanh tươi được ăn kèm. Thùy Dung và
tôi đều mê món này, người thủ đô hầu như xa lạ với món ăn bình dân như
vậy. Lột bỏ lớp đất sét nung ra là ta có thịt cá tươi nóng và thơm ngọt.
Ăn cá nướng hôm đó bọn chúng tôi bị Tào Tháo đuổi vì chột bụng, có lẽ vì
món mắm nêm hay sao đó. Trực em trai anh Sơn kéo tôi, Thùy Dung và Thu
Thủy, cô bạn láng giềng của Trực, đèo nhau đạp xe xuống Xóm Đình đi cầu
cá. Thôn quê không đủ tiện nghi như thành phố, nên người dân phải nhờ vã
thiên nhiên, sống đâu thì quen đó thôi. Nhìn hai dãy cầu tiêu lộ thiên
tọa lạc chơi vơi giữa bầu trời vùng quê thơ mộng, tâm hồn văn nghệ tôi
đâm ra dâng tràn. Đi càng sát lại cầu ao; Trời ơi, những chú thím cá tra
đang nhào lộn chụp banh thật điêu luyện, thật nghệ thuật, trong sóng
nước nhấp nhô đó bầy cá chụp những quả bóng từ trên cao rơi xuống. Tôi
nhìn cái bụng trắng phếu, trắng nỏn nà, trắng rửng mỡ, trắng béo ngậy vị
giác của đàn cá tra, tôi chạnh nhớ lại món cá nướng hồi nãy mà ai cũng
dành ăn cái bao tử cá, nơi được xem là nhất dương chỉ khi vừa nhai, vừa
thử dộ dòn kèm hương vị thơm tho. Tôi thoáng nghĩ ai sẽ ăn bao tử của
đám cá này nhỉ. Nhưng hẳn phải có người ăn vì người ta nuôi bao năm nay
rồi. Trực làm đứt khỏang sự suy tư bâng quơ của tôi, nó kéo tay tôi
bước lên cầu thang đi trên cầu cá. Đường đi không lớn lắm, lại gập
ghềnh, nếu đi không cẩn thận thì có thể là đường đi không đến như chơi.
Tôi nghe kể thỉnh thoảng có người tuột cầu ao, nghiã là rơi tõm xuống hồ
cá tra này. Trực ra dấu bên cầu nữ cho Thủy và Thùy Dung đi vào cầu,
Thùy Dung chưa quen còn bỡ ngỡ như tôi, tôi thấy Thủy đi trước kéo nàng
theo. Bốn đứa đã an vị. Cầu nam đối diện cầu nữ, khoảng cách chừng mười
thước, cửa khép kín lại thì chẳng ai còn thấy ai, bây giờ là giờ phút
thiêng liêng mà hồn ai nấy giữ thôi, hoạ hoằng chỉ có đàn cá tra bên
dưới ngoi đầu đầu lên mặt nước ngoe nguẩy, vẫy đuôi như van lơn chúng
tôi hãy bắt đầu show hát. Cầu cá là sân khấu có bầu trời lộ thiên quang
đãng bên trên, bên dưới có gió thổi vi vu mát cả một trời cùng với đám
khán giả ngoi đầu lượn trên mặt nước chầu chực chờ đợi. Tôi nghĩ thầm
thế là cá lóc nuôi cá tra vậy. Phía trước mắt tôi là cánh cửa thô sơ có
ghi dấu kỷ niệm của hai ông họa sĩ Bảy Hớn và thi sĩ Ba Bầu nào đó, họa
sĩ vẽ hình gương mặt người con gái tóc xõa và dòng chữ graffiti là:
"Thu Loan, giờ này em ở đâu?
Ghét người phụ rẫy
Hận kẻ bạc tình
Bảy Hớn"
Bên dưới là thơ graffiti của ông thi sĩ lạc quan
hơn trong tình trường, không như ông họa sĩ:
"Nhớ người em gái Minh Phương,
Gái một con trông mòn con mắt
Trai một con lắt nhắt yêu hoài"
Í chà, tôi trộm nghĩ "lắt nhắt" yêu nhau như vậy
thì "người em gái" có thể không còn trông mòn con mắt nữa đâu. Tay tôi
cầm mấy tấm giấy báo cũ mà Trực chia cho công tác vệ sinh. Chàng không
quên dặn dò trước khi dùng là phải vò cho giấy nhàu ra, cho thật mềm thì
khi xử dụng mới êm êm, mới phê được. Tôi chú ý những mảnh báo cũ màu
vàng vọt này, có lẽ nó được in từ thời nào đó, lâu lắm rồi, và thôi có
còn hơn không, tôi nghe nói người ta đi rừng thì toàn xài lá cây thiên
nhiên cho công tác vệ sinh thôi. Tôi đọc mẫu báo trên tay tôi đăng phóng
sự con ma cầu cá tra, nó hấp dẫn óc hiếu kỳ của tôi. Tôi nghe như luồng
gió mát len lỏi vào tâm tư. Thật vậy tôi linh cảm thấy phần dưới của
mình được quạt mát lạnh như mặt nước hồ lấp lánh cả một khung trời huyền
bí của thiên đàng cá tra. Đọc truyện thì tác giả nhắn coi chừng đừng
quên khi đi cầu cá mà thả hồn theo sóng nước thì ma gia dưới hồ sẽ kéo
chân. Tôi rùng mình khi tưởng tượng ra cái vòi bạch tuột bên dưới kéo
mình đầm người xuống làn nước kia. Chắc là hằng trăm con cá sẽ cắn mình
khắp nơi đến nhột nín thở. Nơi nào nhậy cảm nhất chắc sẽ nhột nhất. Bọn
thanh niên chỉ sợ nhất là mất của gia bảo ngàn vàng mà trời ban, không
thể đánh mất tại cầu cá Xóm Đình này. Trăm lần không, vạn lần không...
trong sự suy nghĩ của tôi.
Mọi người xong xuôi chờ tôi. Trực hối thúc dục tôi
vì trời về chiều, màu nắng đã nhạt dần rồi. Tôi đành giã từ đàn cá luyến
lưu và hẹn chúng khi khác.
Rồi một ngày kia nàng cho tôi biết gia đình nàng
sắp được sang Pháp đoàn tụ với cha và chị nàng. Chúng tôi trò chuyện lâu
trong quán Cây Dừa. Nàng hứa trấn an tôi là khi nàng sang Pháp nàng tìm
cách mang tôi ra xứ ngoài. Tôi nói tôi rất sợ sự lập lại của quá khứ
như chị nàng đã làm với tôi. Nàng khóc bên cánh tay tôi và hứa là nàng
không phải là chị nàng. Tôi xoay sang ôm đàn, cất khúc ca “Chia Ly”
trong nỗi buồn tan tác:
“Em,
Phút giây cuối cùng
Mình còn lại gì?
Em, hãy nói đi em
Dẫu chỉ một lần
Không bằng ngấn lệ tràn
Ánh mắt long lanh
Tim giăng sầu thương
Anh,
Đây câu cuối cùng
Quyến luyến chia tay
Môi hôn ân tình
Xa nhau không đành
Dù ngày mai hai ngã
Vấn vương còn nhiều
Xót xa còn nhiều
Khi vẫy tay giã từ
Khói sương mịt mờ
Tình sầu lãng đãng
Ngân khúc hát yêu thương
Ái ân nhạt nhòa
Dư âm đậm đà
Đường trần chia hai ngã
Khiến mỗi ngày một xa
Đường chia hai hướng...
("Chia Ly", Hàn Sĩ Nguyên)
Hôm gia đình nàng ra đi, mẹ tôi và tôi xuống sân
bay Tân Sơn Nhất tiễn biệt gia đình nàng. Hai bà mẹ ôm nhau khóc và an
ủi chúc cho nhau may mắn, trong khi tôI bịn rịn cố ngăn lệ lòng khi nhìn
nàng khóc ngấn lệ đầy vơi. Mẹ nàng rất thương mẹ tôi trong tình chị em
như đã nói. Bà thường cho quà cáp, thuốc men cho mẹ tôi đi thăm nuôi cha
tôi. Tình cảm bạn bè của những ngày sau 75 như vầy rất hiếm có sự mặn
nồng vì thời thế. Người ta lo âu vì cuộc sống khó khăn, nên người ta có
khuynh hướng thủ đắc cho riêng mình hơn là cho ra. Ngược lại mẹ tôi cũng
thường giúp đỡ mẹ nàng từ trước và cũng như sau này. Do đó mẹ Thùy Dung
mặc nhiên xem tôi là người con rể của bà, một phần chính vì cái thâm
tình đó với mẹ tôi và có lẽ cũng vì một phần bà hiểu tình cảnh mà tôi
mang trong lòng vì “Tình chị Duyên em”.
Thật vậy, khi nàng sang Pháp nàng đi làm dành dụm
tiền và đã “hồi tiền chui" về cho tôi tìm đường ra đi. Anh Sơn quen một
người bạn Miên, người này hứa mang tôi sang Thái Lan giá là 3 cây vàng.
Nhìn số vàng Thùy Dung cho tôi, tôi lưỡng lự. Vì muốn mẹ tôi có vốn làm
ăn nuôi cha tôi. Nhưng mẹ tôi khuyên tôi nên ra đi, mẹ tôi lo cho cha
tôi được. Vã lại cha tôi nhắn rằng tôi hãy ra đi, sống dưới chế độ mới
không có tương lai, một khi hồ sơ bị vết tích ghi “con ngụy”, tôi không
thể ngốc đầu lên được tại nơi gọi là quê hương tôi.
Thạch Sung, người trung gian đưa tôi sang Miên,
rồi từ đó người ta đưa tôi sang đất Thái, ông khuyên tôi nên ngâm nắng
cho sạm da, càng đen càng tốt vì tôi sẽ đóng vai thương buôn. Sáng sớm 5
giờ tinh sương Thạch Sung chở tôi và 2 cô gái người Việt gốc Hoa kiều
Chợ Lớn từ Sài Gòn lên đây, chúng tôi sẽ cùng vượt biên giới sang tỉnh
Svay Rieng của Miên, chúng tôi nghỉ ngơi, hôm sau hừng đông sang Prey
Veng rồi tới thủ đô Phnom Penh. Tại đây Thạch Sung dặn tôi và hai chị em
Hồng Anh và Lan Anh là không nên ra ngoài, mà hãy lại ở trong khách sạn.
Vì giấy tờ đi đường anh Thạch Sung nhờ người ở Nam Vang lo trong hệ
thống ăn chịu buôn người. Từ đây người hướng dẫn viên mới là a Beng,
người Miên gốc Tiều nói rành tiếng Miên, Triều Châu, y lại thông thạo
tiếng Thái, và biết tiếng Việt đủ để hiểu. Thông thường y nói chuyện với
2 chị em cô Tàu bằng tiếng Tiều thì tôi mù tịt thôi. Chúng tôi đi lên
Kompong Chnang và trực chỉ hướng tây bắc về Pursat, rồi rẽ vào ranh giới
tỉnh Battambang. Battambang là đô thị lớn, nơi mà một phần đời sống kinh
tế phát đạt sầm uất do trao đổi hàng hóa giữa Thái Miên như tỉnh Tây
Ninh hay Châu Đốc của Việt Nam. Chiều Battambang chúng tôi được chở ra
phố, hai cô gái được vấn sà rong, mang nét trắng trẻo tiểu thư của vùng
Chợ Lớn hay Hoa kiều tại Nam Vang. Còn tôi trong bộ đồ bà ba thương
buôn, quần đen áo trắng ngã màu ngà của a Beng trao cho tại nhà a Pánh
lo giấy tờ đi đường tại Nam Vang, một người bạn thân trong nhóm làm ăn
chui của a Beng. Hai cô gái và a Beng trao đổi tiếng Tiều, tôi đoán họ
nói hãy cẩn thận khi ra phố vì người Miên vốn không có thiện cảm với
người Việt. Hồng Anh hỏi tôi biết họ bàn gì không, tôi lắc đầu. Hồng Anh
dặn tôi càng ít nói tiếng Việt càng tốt. Tôi gật đầu hiểu ý. Chúng tôi
ăn cơm tại quán của người chủ gốc Tiều quen a Beng. Tôi thấy bộ độ CSVN
đi phố. Thời điểm 82 là chế độ Heng Samrin được Hà Nội dựng lên làm bù
nhìn, trong khi đó phe đối kháng là 3 phe của Khmer đỏ của Pol Pot,
Khmer xanh của Son San và phe tự do của cựu Hoàng Norodom Sihanouk. Tối
đến chúng tôi lên đường chủ đích là tiến sát vào biên giới Thái, từ đó
có người ra dẫn sang bên đất Thái theo dự tính. Nhưng không xong rồi...
Chúng tôi bị tốp người mặt đồ bà ba đen quấn khăn
rằn ngang cổ trang bị súng ống chận đường khi vào thị trấn Pailin. Tôi
nghe nói nơi đây các phe phái Khmer đỏ, xanh hay phe Ông Hoàng thường va
chạm kình chống nhau để tranh giành ảnh hưởng lên nhau. Chúng tôi bị đưa
vào căn nhà vắng nằm sâu trong rừng. Sau đó chúng thả viên tài xế a Beng
và giữ ba chúng tôi lại. Tối hôm đó có bốn người đàn ông đen đúa khác
đến căn nhà chúng giam lỏng bọn tôi, có một người nói được cả tiếng Tiều
và tiếng Việt, dù là hơi lớ giọng, nhưng đủ cho chúng tôi hiểu ý bọn
chúng. Chúng xưng là người của “chính phủ” Pol Pot và hỏi cung chúng
tôi, sau đó họ bắt đầu lục xét trên thân thể từng người. Một tên bỗng
giở trò bỉ ổi chĩa súng lột quần áo của 2 chị em Hồng Anh và nhăn răng
cười trông thật đểu giả. Hai tên đệ tử giữ tay chân tay Lan Anh
cười thật nham nhỡ, tên đầu đảng cởi bỏ xiêm y của y, ngực trần của y
xâm hình chiếc đầu lâu và kế đó là hình đầu rắn hổ mang khè lửa đỏ, y
lườm Lan Anh như chuẩn bị trò tồi bại, tên thứ 4 cầm cây AK-47 canh
chừng tôi. Lan Anh khóc la dử dội, trong khi Hồng Anh ôm mặt khóc xoay
hướng khác. Trong cơn vui say bọn chúng xao lãng tôi, tôi chụp nhanh lấy
cái ghế gỗ bên cạnh giáng vào đầu tên lính canh tôi, y xiểng niểng, tôi
chụp giật lấy khẩu súng vật lộn với hắn, hai tên cận vệ còn lại ôm súng
lại nện vào người tôi túi bụi đến khi tôi ngất xỉu. Thế là chúng thoã
mãn khi hiếp hai chị em Hồng Anh, xong chúng bỏ đi.
Tôi chồm dậy ngó ra ngoài cửa trời vẫn còn tối,
phòng lờ mờ nhờ ánh trăng soi nên tôi cố gượng đứng dậy. Mò lần ra cửa
sau, thấy lu nước tôi bụm nước rửa mặt. Tôi linh cảm mặt mình sưng nhiều
và máu rỉ ra đau thốn, sống lưng, bả vai nhức nhối. Theo ánh trăng tối
nhớ hướng sau nhà là hướng tây khi xe chạy theo bản đồ a Beng chỉ chúng
tôi trong phố. Tôi trở vào tìm chị em Hồng Anh, hai chị em nằm sóng soài
trên mặt đất gần cửa trước, tôi lay họ dậy và thúc hối hai cô cần ra
khỏi nơi đây trước khi bình minh, vì nếu đám Khmer đỏ trở lại thì nguy
to. Chúng tôi mon men theo hướng bắc đi đường vòng trong rừng né bọn du
kích Pol Pot canh gác, vì hướng tây có trục lộ giao thông lớn quân Heng
Samrin hay Pol Pot kiểm soát canh gác. Đi được khoảng ba tiếng đồng hồ
thì Lan Anh té ngã, Hồng Anh cho biết Lan Anh bị ra máu nhiều không thể
đi tiếp. Chúng tôi phải đành dừng lại. Hai chị em cô ôm nhau khóc thút
thít. Tôi tội nghiệp họ, nhưng lòng lo lắng bọn du kích đuổi theo. Tôi
gượng người cố xé một cánh tay áo của mình đưa cho Hồng Anh lau máu cho
em cô. Hồng Anh sợ em mình chết hay bị tôi bỏ lại, nàng khóc van tôi.
Tôi ôm vai Hồng Anh an ủi và nói khẽ đã đến đây rồi thì tất cả nếu chết
cùng chết, tôi không nỡ bỏ hai cô ở khu rừng lạ hoắt này. Nàng tuôn
trào nước mắt, gật đầu như cám ơn tôi. Bỗng tôi nghe tiếng gà gáy và chó
sủa tôi hy vọng rồi lại lo âu. Tôi đi tới phía trước quan sát sau rặng
tre trước mặt thì thấy một khu làng có nhiều nhà tranh. Tôi vái thầm ơn
trên giúp tôi qua cơn khốn khổ này. Thú thật tôi đã mệt lã rồi. Tôi thấy
một cặp người Miên chạy gắn máy rời hướng làng, tôi vẫy tay cầu cứu vì
quá mệt và Lan Anh đi không nổi nữa. Thôi thì năm bảy cũng liều đến đâu
thì đến. Cặp ngườI Miên này đến xem mặt mũi tôi, thấy mặt tôi bị sưng
bầm họ biết tôi bị nạn, tôi dẫn họ lại nơi hai cô gái ngồi, họ bảo Lan
Anh lên xe ngồi giữa, vợ chồng họ chở cô vào làng trước, tôi và Hồng Anh
theo hướng vào làng gặp họ. Tôi dìu Hồng Anh đi, tôi biết cô này vừa mệt
vừa đau như em cô thôi, đi gần đến cửa làng Hồng Anh ôm chầm lấy tôi òa
khóc và cám ơn tôi không bỏ chị em cô. Cô nàng cầu mong tôi tiếp tục lo
cho hai chị em cô đến nơi bình an gặp lại mẹ cô. Tôi gật đầu giơ ngón
tay trỏ móc nghéo tay nàng. Cô nói khi đến trại tị nạn cô sẽ liên lạc
với mẹ cô bảo lãnh tôi sang Mỹ như là người ơn. Tôi nói chỉ có cách tôi
là chồng cô trên giấy tờ thì may ra thôi, vì tôi không có thân nhân ở Mỹ
và tôi muốn sang Mỹ nhất. Nàng gật đầu.
Chúng tôi vào đến làng, làng cho người nói tiếng
Hoa và Việt ra nói chuyện. Tôi hỏi Lan Anh ở đâu, họ dẫn tôi vào gặp
“Ông lớn”, tôi chắc là ông xếp lớn ở đây. Chúng tôi đến một căn nhà
ngói, bước vào thấy một người đàn ông trạc trên năm mươi, y đen đúa
nhoẽn miệng tươi cười nói vài câu tiếng Việt bập bẹ hỏi han, y nói tiếng
Tiều khá hơn. Hồng Anh được y đưa vào gặp em mình, một phụ nữ Miên đang
nhúng nước lau rửa giúp Lan Anh. Người đàn ông này tự giới thiệu y tên
là Rin và vợ y là Neary đang giúp Lan Anh, y chỉ hình trên tường hình
hai đứa con trai cầm súng AK-47 tên là Tholla và Botra, và ông là làng
trưởng. Ông cho biết ông theo phe chính phủ liên hiệp kháng chiến, y
thuộc phe Son San, được Thái Lan và Mỹ giúp đỡ. Tôi nói tôi có cha bị
người CS cầm tù. Ông gật đầu tỏ ý ông hiểu tôi. Tôi nhìn gương mặt dử
dằn của ông, nhưng ít ra ông đối đãi mình nhân hậu ngay giây phút đầu
này. Thỉnh thoảng ông cười nhe hàm răng hô phì phà điếu thuốc rê vấn,
khói thuốc nồng xông mùi hăng hắt khó chịu. Răng ông đóng bợn vàng như
bơ, kiểu này chắc ông bị mấy nha sĩ chê ngay, dù có tẩy (deep clean) đến
thế mấy đi nữa. Ông hỏi sự liên hệ giữa tôi và hai cô gái, tôi nói tôi
là chồng của Hồng Anh, nếu ông chịu giúp đỡ cho tôi gặp người Mỹ hay
nhân viên Liên Hiệp Quốc thì sau này sang Mỹ chúng tôi hứa sẽ hậu tạ đền
ơn ông. Ông nói ông rất thích người Mỹ và ghét CS. Ông nói xứ ông bị
người Việt Nam xâm chiếm đất đai. Ông kể lịch sử xưa kể là người Việt
rất tàn ác khi cướp đất người Miên, quân lính Việt xâm lăng chôn sống
đàn ông Miên và hãm hiếp phụ nữ Miên. Bỗng Hồng Anh khóc thút thít tức
tưởi khi dịch ra Việt ngữ cho tôi nghe, tôi bảo chiến tranh là tàn bạo,
là gây hận thù và hai cô gái Việt của tôi là nạn nhân của người Miên của
ông. Sau đó ông Rin đưa tôi và Hồng Anh sang nơi trú ngụ ở căn nhà tranh
gần đó. Tôi thấy trong nhà có 4 người cư ngụ, ông cho biết cặp vợ chồng
người Lào Hmong này chạy trốn người Việt xâm lăng sang đây tá túc làng
của ông. Người đàn ông Hmong tên Shou Nouyang, bà vợ tên Luba chào chúng
tôi niềm nở, hai cô con gái là Liang và Mayan đều trên 18 tuổi. Họ được
phân công vào việc sản xuất khô tra. Chúng tôi sẽ chia phân nữa căn nhà
này với họ tạm tá túc đến khi chúng tôi có dịp vượt sang Thái gặp phái
đoàn Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, ông Rin dặn mọi người. Bà Luba dẫn Hồng Anh
vào lấy phòng nhỏ bên cạnh có chiếc giường tre của hai cô con gái ông
bà, bây giờ nhường lại cho chúng tôi. Tôi xoay sang nói nhỏ với Hồng Anh
chúng tôi có chổ nghỉ ngơi tạm quá tốt cho kế hoạch tìm gặp người Mỹ hay
Cao Ủy rồi và tôi sẽ tìm cách cho nàng gởi thơ cho mẹ nàng hay. Tôi và
ông Rin cùng ông Shou ra thăm cầu cá, tôi dặn Hồng Anh qua rước em cô
về phòng nghỉ dưỡng bệnh.
Tôi ngắm nhìn cái hồ cá tra nhân tạo, nghe nói
người dân làng này đào từ thời chính phủ Lon Nol trước 75. Hồ rộng có
một dãy nhà cầu gồm mười hai cầu, tám cho người lớn, và bốn cho trẻ em.
Cầu nối hai bên bờ đê. Khu cầu dành cho trẻ em tọa lạc gần bờ. Ở giữa hồ
nghe nói sâu dưới hai thước. Tôi nghe ông Rin thuật lại lịch sử và sinh
hoạt hồ qua viên thông ngôn nói tiếng Việt của ông. Ông hỏi tôi thích ăn
cá tra không, tôi nói chưa từng ăn qua, nhưng Cao Miên là xứ nổi danh
món khô tra, ông cười gật đầu thích chí câu tôi nói. Tôi nhìn hàm răng
bơ Bretel vàng vọt của ông mà tự hỏi bao nhiêu ký khô tra mà ông đã ăn
trong đời. Tôi biết khô tra béo ngậy màu vàng có bán ở chợ Trời Gò Dầu
Thượng.
Sáng sáng Hồng Anh và Lan Anh theo mẹ con bà Luba
đi xẻ cá chúng tôi vớt lên. Tôi và ông Shou cạo nhớt, rửa sạch cá ném
sang bên hàng xẻ cá, các bà xẻ đôi cá lật ngược sống lưng cá cho bề dẹp
sát vào tấm mành tre phơi nắng, ruồi nhặng bu nhiều, chúng tôi dùng quạt
xua chúng đi. Do đó tôi và ông Shou trở thành đôi bạn bạn thân. Nói
chung những người Lào và Miên ở đây vốn hiền hòa, họ sống dưới kỷ luật
của ông Rin. Tôi còn nhớ những kỷ niệm cũ khi nằm sát phòng vợ chồng
ông, bà cất tiếng Hmong đi ra sau bếp pha nước trà cho ông, trong khi
ông phì phà thuốc lào với chiếc dọc tẩu nghe âm thanh thật phê. Hồng Anh
nằm giữa ngủ áp mặt vào cánh tay của tôi, em nàng xoay vào vách. Nàng
hay than phiền về mùi thuốc xông lên hôi quá. Tôi cười và nói là may lắm
tôi không là người thích hút thuốc. Nàng hôn cánh tay tôi, cắn nhẹ. Tôi
thương Hồng Anh trong cái dầy vò khó chịu vì tôi vẫn nhớ đến người tình
Thùy Dung. Trong chuyến vượt biên này tôi nguyện lòng giúp chị em Hồng
Anh mà thôi. Tôi sang Mỹ sẽ làm sáng tỏ vấn đề và sẽ mang Thùy Dung sang
Mỹ sau, vì tôi không thể phản bội người tiếp tế tiền nuôi sống gia đình
tôi và cho tôi có cơ hội vượt biên tạo tương lai cho cuộc sống mới. Tôi
gỡ nhẹ tay Hồng Anh ra khỏi ngực tôi. Hôn nhẹ lên tóc nàng và khẽ nói:
- “Anh phải ra cầu sáng hôm nay cho cá ăn”
Nàng giả vờ mắt nhắm như muốn ngủ nướng, nàng hỏi:
- “Anh đi cầu sớm vậy ? Anh đau bụng hả?”
- Tôi đáp: “Ông Shou dặn anh theo ông ra hồ cho cá
ăn để vớt cá xẻ thịt, xế trưa thì thiên hạ đông khó làm việc lắm.”
Tôi lấy tay chào ông Shou và ra dấu tôi chuẩn bị
đi với ông, làm vệ sinh mặt mũi đầu ngày xong, tôi chờ ông ở sân trước.
Ông khệ nệ kéo thùng phân người tôi chẳng hiểu ông “lạc quyên” ở đâu, nó
được dấu gần bụi tre già. Tôi đến giúp ông một tay, tay kia tôi cầm cái
thau nhôm dưng cá. Như tôi tay kia của ông Shou cầm cái vợt lưới cá.
Chúng tôi ra bờ hồ. Sáng sớm tinh sương, hồ vắng tĩnh mịch, khách hàng
hãy còn ngủ. Ông Shou ném mồi phế thải xuống hồ, bỗng mặt hồ lên cơn dậy
sóng, đàn cá tra nhào lộn thưởng thức màn điểm tâm lót dạ. Những chú
thím cá có làn da đen ngâm hơn cá tra ở hồ cá Xóm Đình quê hương hay là
cá Miên phải da sạm, cá Việt bụng trắng tinh vì người màu sao thì cá màu
vậy.
Ông Shou vớt mỗi lần được 4, 5 chú thím cá, xong
ông gạn lọc chỉ lựa lại. Cá "đô con" thì lấy, cá nhỏ để nuôi tiếp. Có
lần ông Rin nói với tôi là khô tại đây mang sang Thái Lan đổi gạo và các
nhu yếu phẩm khác. Làng cũng có trồng rau, đậu, quả, gà, vịt, nhưng vẫn
phải trao đổi thêm vào sinh hoạt kinh tế ở đây. Nhìn đám cá bắt lên, tôi
nghĩ trong bụng về thuyết chu kỳ sinh tồn là: “Người ăn vô cho ra, xong
cá ăn vô khôn lớn đủ đô lại nộp mạng cho người”, định luật cứ thế mà
xoay vần. Ít ra cuộc sống tạm dung tại mảnh đất này quả thật đầy ích
lợi. Tôi thầm nghĩ mình có đóng góp vào sinh hoạt kinh tế là cho cá ăn
hai kiểu, kiểu thiên nhiên, kiểu ông Shou. Cá chúng tôi nuôi đem bán
sang đất Thái. Người Thái ăn khen cá ngon, cá béo ngậy, cá đô con nhiều
mỡ và sẽ có ngày người Thái sẽ cho tôi đất mới để tạm dung. Tôi an phận
trong ý nghĩ của mình.
Năm 1982 khi liên minh quân Heng Samrin và CSVN
tấn công căn cứ Pailin, họ hành quân nã phi pháo, làng cá chúng tôi chạy
trối chết, ông Rin cầm đầu đoàn người tị nạn chạy băng sang đất Thái.
Quân Thái Lan tước vũ khí chúng tôi và phân loại ra cho vào trại tị nạn
biên thùy tân lập NW82, sau khi trại NW9 tràn đầy người tị nạn. Chúng
tôi là đợt đầu được đổ bộ vào đây. Khi phái đoàn Cao Ủy Tị Nạn đến ba
người chúng tôi là Hồng Anh, Lan Anh và tôi vì biết Anh ngữ nên được ông
trại trưởng người Thái tuyển dụng làm liên lạc viên cho làng Cầu cá
Rinsons, tôi bảo ông Rin rằng mọi người sẽ hãnh diện vì cái tên tây
phương mang tên ông mà tôi ghép khi đề cập với phái đoàn Cao Ủy Tị Nạn
và rằng đồng bào ông là người trong làng như "sons" mà ông đã từng lo
lắng cho họ, và theo tiếng Mỹ nó lại là những người con trai. Ông Rin
khoái chí cười khoe cả một bầu trời bơ vơ vàng vọt màu vanilla sáng
trưng cuộc đời. Tôi xin phái đoàn Cao Ủy ưu tiên cho 4 người trong gia
đình ông Rin, 4 người trong gia đình ông Shou và “vợ chồng” chúng tôi ra
đi theo diện “ghép form” cùng Lan Anh cứu xét đơn chúng tôi xin đi Mỹ.
Trong số 150 của làng Rinsons phái đoàn Cao Ủy Tị Nạn sẽ thanh lọc lại.
Ông Rin được nhận vì ông là đại úy cưu sĩ quan nhảy dù thời chính phủ
Lon Nol vốn thân với chính sách Mỹ tại Đông Dương, và ông Shou có quá
trình hoạt động trong toán thám báo của đạo quân của tướng Vang Pao hợp
tác với quân đội Hoa Kỳ. Tôi có cha đi tù CSVN tại bắc Viêt. Hai chị em
Hồng Anh có mẹ tại Mỹ, nên "rể tôi" thêm credit ké nhập cảnh Mỹ như ý
mong muốn. Chúng tôi đậu phỏng vấn dễ dàng. Bước ra khỏi phòng phỏng vấn
thì Hồng Anh ôm tôi mừng rỡ.
Ngày bay sang Mỹ, cả nhóm chúng tôi 11 người đi
chung trên chuyến phi cơ về hướng San Francisco, nơi có mẹ Hồng Anh cư
ngụ. Gia đình ông Shou được Hội Cứu Trợ Người Hmong bảo trợ về Fresno,
gia đình ông Rin được Hội Thân Hữu Người Cao Miên bảo trợ về Stockton.
Nghiã là chúng tôi sẽ định cư tại những vùng đất không xa nhau theo phạm
vi thật bao la của xứ Hoa Kỳ.
Mẹ Hồng Anh đón chúng tôi tại phi trường, bà cám
ơn tôi. Bà vốn biết tôi mang hai con bà sang đây rồi sẽ làm bảo lãnh
Thùy Dung sang Mỹ sau này. Bà rất vui vẽ và cũng đã chuẩn bị lo lắng cho
tương lai những người con mới sang của bà.
Chuyện hồ cá năm xưa bắt nguồn từ Xóm Đình Việt
Nam rồi sang hồ cá Pailin, cũng như mùa Xuân năm nào tôi bắt đầu với
Thùy Dung và thời thế đẩy tôi sang Cao Miên để chung sống với Hồng Anh,
nàng xinh đẹp và dễ thương, nhưng tôi cám ơn cái chân tình nàng dành cho
tôi trong những ngày tháng tị nạn tại đất Chùa Tháp Cao Miên và Thái
Lan. Giờ đây, giây phút này tôi phải trở lại với Thùy Dung đang chờ đợi
tôi mỏi mòn, người bạn gái có ân tình đậm đà với tôi. Nàng gởi tôi bao
nhiêu bức tình thư thăm hỏi, lo lắng khi chúng tôi xa nhau. Tôi bỗng nhớ
bài nhạc năm xưa tại quán Cây Dừa quê hương:
“Theo năm tháng hoài mong
thư gởi đi mấy lần
đợi hồi âm chưa thấy
anh ơi nhớ rằng đây
còn có em đêm ngày
hằng thương nhớ vơi đầy…”
Tôi nguyện lòng khi đến đất Mỹ thì điều đầu tiên
tôi muốn làm là hồi âm cho người tôi yêu vô vàng, Thùy Dung, vì:
”Em mơ ước làm sao
cho trọn mối duyên đầu
đẹp lòng anh yêu dấu
xưa Chức Nữ chàng Ngưu
từng đắng cay dãi dầu
chờ Ô Thước bắt cầu…”
Việt Hải Los Angeles
(Cho ngày 30-04-2005)