TÌNH TRẮNG
nguyễnvănthiệu
Ðôi khi mớ giấy má hay vật kỷ niệm cũ càng lộn xộn mà cũng có thể biến chúng
ta thành một Kim Thánh Thán bổi hổi bồi hồi bên cái rương ăm ắp thư từ cố
nhân, nó có thể làm chúng ta xốn xang với ánh mắt ngời lên sáng rỡ mà cũng
có thể khiến cảnh trí xung quanh nhoà đi cơ hồ trời mây đã đọng lại dồn hết
trong hai con mắt. Có khi đó chỉ là mấy bức ảnh ố vàng với ánh mắt sáng trên
khuôn mặt ngô nghê thời trai trẻ. Có khi đó chỉ là cái bóp cũ rích của những
ngày đầu ngơ ngác trong cuộc đổi đời hay có khi là cái đồng hồ lên giây
thiều trầy trụa thuở còn cắp sách tới trường. Có khi và có khi, và, khi nào
cũng thế, cứ như là một phép màu huyền nhiệm, năm ba chứng tích mờ nhạt và
lộn xộn của những tiết đoạn quá khứ không kém phần mờ nhạt và lộn xộn ấy lại
có thể làm quảng đời bỏ lại vụt hiện một cách rõ ràng, trật tự và ngăn nắp.
Nó rõ ràng và trật tự đầu đuôi như thể một cuốn phim chiếu chậm nhưng hiện
ra rất nhanh, rất rõ và rất đủ đầy, cứ như là một khung cảnh thiên nhiên
hiện ra sắc sảo giữa trời đêm dưới ánh chớp thiên lôi. Nó ngăn nắp rạch ròi
như một bài thơ Ðường hợp niêm luật với một bố cục đủ đầy khai, thực, luận,
kết nhưng cứ làm chúng ta chơi vơi hụt hẩng vì phần kết lửng lơ, đầy những
tiếc nuối ngẩn ngơ.
Như là tấm hình ố vàng về cây cầu, về giòng sông tuổi thơ của tôi. Như là
những mẩu chuyện tưởng đã trôi theo con nước dưới dòng sông ấy, những câu
chuyện của hơn 40 năm trước mà tôi sẽ kể với bạn về quê hương Gò Dầu và về
mối tình đầu của tôi.
Có gì đẹp và thắm thiết hơn hình ảnh của một quê hương nhỏ bên một bến sông,
có cây cầu cao lộng gió, có những mái trường, có những mái chùa rêu phong cổ
kính rợp bóng bóng mát cổ thụ, có những hàng quán xôn xao, cái mãnh đất đã
nuôi dưỡng tình yêu ban đầu cho mỗi cuộc đời chúng ta? Gò Dầu quê tôi là một
chốn quê như vậy. Nó nằm bên một dòng sông: sông Vàm Cỏ Ðông. Nó cũng có một
cây cầu nối kết hai bờ: cầu Gò Dầu, cây cầu nhỏ nhắn ba nhịp nhưng sinh tử
hệ trọng biết bao. Con sông và cây cầu của một thị trấn miền Ðông nằm kề đất
Miên, cái thị trấn nho nhỏ vùng biên ải nhưng cũng không thiếu phần nên thơ
và lãng mạn với những bóng hồng tha thướt áo dài để nuôi dưỡng mối tình ngô
nghê đầu đời của tôi. Thế giới này, các nhà khoa học bảo thế, bắt đầu từ vụ
nổ đùng Big Bang còn tình yêu của tôi thì mở đầu với những trò chơi y hệt
khúc hát Bang Bang khi xưa ta bé ta chơi, ta chơi và ta còn giành nhau, vật
nhau huỳnh huỵch. Thế rồi, Buồn đã tới rồi, một buổi sáng chơi vơi , buồn đã
đến ngay từ lúc tôi chợt lớn để cảm nhận cái gì đó khang khác trong thân
thể, trong ánh mắt cô bé cùng xóm và cùng lớp đang lọt thỏm trong vòng tay
mình một chiều chơi "u bắt mọi". Chao ơi, cái "buổi sáng chơi vơi" ấy của
tôi. Anh "u" là tôi, ngỡ ngàng nhìn ánh mắt là lạ và ngỡ ngàng cảm nhận cái
thân thể nóng bừng của "cô mọi" mà cứ là chơi vơi, hụt hẩng vòng tay ôm. Thế
là, từ cái trò chơi lạc mất tuổi thơ hôm đó tôi triền miên đi vào cái tâm
trạng chơi vơi hụt hẩng. Thế là Khi gió đồng ngát hương/ Rợp trời chim én
liệng/ Cây nẩy đầy chồi xanh/ Mây trắng bay yên lành/ Em là cánh én mỏng/
Chao xuống giữa đời anh/ Tôi không tự nhiên mày tao và gan lì giành giật mà
tôi hiền khô và tôi cam phận tôi đòi. Và tôi, kể từ dạo đó, nói như một lời
hát sên sến, "nên từ đó tôi buồn". Vắng nàng một ngày tôi buồn hiu buồn hắt.
Không thấy nàng hai ngày tôi tê tái vào ra, và đêm ơi sao mà dài vô tận. Hồi
đó tôi chưa biết Xuân Diệu là ai nhưng cũng nhớ cũng nhung như chính chàng
Xuân: Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh / Anh nhớ em anh nhớ quá em
ơi. Hồi đó tôi cũng chưa biết Nguyên Sa nhưng cũng cứ hân hoan với niềm hạnh
phúc nhỏ như chính Nguyên Sa sau đó sẽ từng: Gặp một bữa anh mừng một bữa /
Gặp hai hôm thành nhị hỉ tâm hồn.
Không biết thì cũng đến lúc biết vì chúng tôi đã đủ lớn để ngồi trong lớp
học mộng ngoài cửa lớp và ra ngoài cổng trường "đứng ngẩn trông vời áo tiểu
thư".. Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn... và chúng tôi giã từ tuổi thơ để vào
trường quận, cái ngôi trường vì rất nhỏ nhắn nên cũng ất đằm thắm không khí
gia đình. Nhưng cái thuở trẻ dại ấy mà, cùng lắm lũ học trò nửa chợ nửa quê
chúng tôi cuốc bộ lên Rạch Sơn ăn hột vịt lộn uống nước mía hay xuống Bến
Cát thả mình theo dòng nước để cà rà theo mấy cô thôn nữ mà bộc lộ những ẩn
ức dậy thì. Các cô thôn nữ ngày ấy ơi, không biết bây giờ các cô ở đâu, đời
sống, chồng con thế nào và trong cái chật vật của đời sống hôm nay có còn
nhớ lũ học trò tinh nghịch chúng tôi ngày ấy hay không? Tôi thương các cô
quá đi thôi, các cô đã tìm đủ cách để bày tỏ cảm tình với đám học trò rắn
mắt chúng tôi, bắt qủa tang chúng tôi bẻ mía trộm cũng chỉ cười xoà hiền
khô, bắt qủa tang chúng tôi hái trộm xoài cũng hiền khô cười xoà. Mà chúng
tôi chỉ có thể oai hùng và rắn mắt với các cô thôn nữ hiền lành vậy thôi vì
mấy nữ sinh trong trường, như là cô hàng xóm của tôi, thì chẳng biết làm gì
hơn ngoài kiếp đoạ đày. Cô hàng xóm của tôi đã rời bỏ tuổi thơ sớm hơn nên
thản nhiên xem lũ con trai cùng lớp như là đám em út để mình mặc tình sai
vặt. Mà tôi, cứ như là tên nô lệ của ái tình, cứ là tự nguyện và hân hoan
như là kẻ sinh ra cho người đẹp sai phái, lúc nào cũng rất "xuất sắc trong
vai tì nữ ". Có nàng lũ con trai chúng tôi đâm ra ngớ ngẩn, không còn là
mình, không còn những thằng đực rựa tinh quái bẻ mía hay hái xoài trộm. Có
nàng, chúng tôi tíu tít như những đúa em và ai cũng thi nhau làm vui lòng
người đẹp. Chúng tôi ướt đẫm mồ hôi gò lưng đạp xe mà mặt mày tươi như hoa
nở, đưa mấy nàng lên giữa cầu Gò Dầu đứng đó hóng gió, đứng hóng mùi nem
nướng thoảng qua từ những quán xá bên đầu cầu, đứng ngắm nghía ghe thuyền
tấp nập dưới chân, đứng ngắm cảnh mái chợ ven sông đang rộn rịp người mua kẻ
bán hay mấy chàng lính thủy đang tíu tít việc quân trong căn cứ dưới chân
cầu và, đứng mà để cả tâm trí mình choáng ngợp hình ảnh mấy nàng.
Từ đó, từ những mái tóc cùng những tà áo, cây cầu ba nhịp và khung cảnh bốn
bề đã gắn bó hơn, đọng lại trong ký ức tôi không thể nào mờ. Nàng và quê
hương, ký ức tôi khắc ghi rất rõ. Ký ức tôi còn ghi rất rõ hình ảnh con
đường nối dài từ chợ Cá đến trường Hữu Ðức, đến cả dãy cầu cá , đến nhà máy
xay lúa, đến tận Xóm Ðình, nơi tôi từng thất vọng vì cái mùi tanh tưởi và ấm
ức suy diễn rằng ông Nguyễn văn Ðông không thể nào sáng tác nổi bài "Chiều
Mưa Biên Giới" từ một nơi như thế này. Ký ức tôi còn ghi rõ hình ảnh con dốc
về ngả Chợ Trời, nơi chúng tôi từng bao lần phăng phăng nhả thắng cho xe đạp
xổ dốc trước khi nhịp nhàng quẹo trái đổ vào Dinh Ông. Ðến tận hôm nay tôi
vẫn không biết gốc gác của chữ Dinh Ông nhưng tôi biết chắc rằng chùa đó
dựng lên từ thời Tây Sơn với nét kiến trúc Khmer và ký ức tôi còn ghi rất rõ
khung cảnh u tịch phảng phất không khí bồng lai hay cổ tích với những bóng
cây sao, cây dầu, cầy, gõ đã mấy trăm tuổi rợp bóng trên gò đất vừa cao vừa
rộng. Có những đêm không gian cổ tích ấy rộn lên với cảnh những Hưóng đạo
sinh hay những Phật tử quây quần bên ánh lửa trại nối vòng tay lớn. Có những
buổi chiều, không khí bồng lai ấy hoá thành một sân trường khi những trại
viên say mê đu mình trên những sợi rễ lửng lơ chưa chạm đất để tưởng tượng
mình là Tarzan, chúa tể rừng xanh. Quê hương, từng khung cảnh lớn cho đến
những chi tiết nhỏ, từ những nghĩa cử cao đẹp đến những nấn ná thòm thèm đều
hằn rõ trong tôi. Nhớ Dinh Ông, tôi nhớ những tên tuổi lứa đôi nổi lên trên
từng thớ da cổ thụ theo vết nhựa rỉ ra khi những lứa đôi muốn, như cây, gắn
bó tên nhau tới trăm tuổi kiếp người. Nhớ Dinh Ông, tôi nhớ tấm lòng rộng
rãi của những sư thầy với những bữa cơm chay thực sự cơm chùa với khách
viếng chùa, nhớ cả những gáo nước mưa trừ bách bệnh ở hậu liêu. Và, nhớ Dinh
Ông, tôi còn nhớ cả chặng đường về khi cả bọn đứng tần ngần thòm thèm ở bùng
binh ngã ba Gò Dầu vì không đủ tiền để thăm Dì Trâm hay Thím Xẩm, ôi cái món
bì bún và món bò kho ngày ấy sao mà đậm đà quá vậy.
Vậy đó bỗng nhiên... và rồi, Một hôm trận gió tình yêu đến.. Cứ như thế
những chuyến đi chơi từng giờ từng phút gắn bó chúng tôi với quê hương và
quê hương, đến lượt, qua những chuyến đi như thế, đã gắn bó chúng tôi thành
đôi thành lứa, dù là đôi lứa thật hay đôi lứa "tình trong như đã.. ." Lũ bạn
của tôi, có người lặng lẽ đưa nhau lên Cao Sơn Tự, ngôi chùa nên thơ ở Gò
Chùa, nằm bên bờ Vàm Cỏ Ðông bao la sóng vỗ dập dềnh, những bến Cô Tô và Hàn
San Tự của quê tôi. Mà tôi, cũng năm ba lần như thế, sao cứ khờ dại khi ghé
thăm chùa chỉ để ấm ớ những chuyện mưa nắng và học hành để rồi, đêm đêm, nằm
đấm ngực trách mình nhút nhát. Cái vu vơ của tình vu vơ học trò ấy vậy cũng
là vị mặn mòi của tình học trò. Thơ học trò anh chất lại thành non mà những
cặp vỏ xe đạp đã thi nhau mòn lẳn mòn lơ, sau những chặng đường dài gò lưng
đi về cơ hồ cũng chất lại thành núi mà câu chuyện giữa tôi và nàng vẫn cứ là
ấm ớ đâu đâu. Tôi vẫn rụt rè không dám mở lời. Tôi khổ sở phân vân. Tôi tự
ái lòng hỏi lòng, phải chăng nàng thực sự mến tôi hay chỉ ban cho chút ân
huệ chỉ để trả ơn tôi? Hồi đó với nàng tôi cũng là một nhân vật anh hùng
nhưng, trớ trêu thay, chỉ là nhân vật của một câu chuyện anh hùng vừa không
có hậu vừa còn dở khóc dở cười. Có lần, lúc đứa em út nàng suýt chết trôi ở
bến Lò Gạch thì cũng là lúc tôi đang nhẩn nha những trái cây chín mọng trên
mấy cây Trâm đang nghiêng mình gần đó, để tôi hớn hở đóng vai kẻ "giữa dòng
thấy sự bất bằng chẳng tha". Tôi quá nôn nóng cho sự nghiệp anh hùng giữa
giòng nước xiết trong mùa nước lớn nên cái quần cụt chết tiệt che chắn giới
tính cũng nổi nóng ra đi, trả tôi về với hình hài nguyên thủy. Nàng nhìn tôi
khâm phục và thẹn thùng còn tôi thì nhìn nàng thẹn thùng tiêng tiếc. Ngớ
ngẩn, quê muà như là Lục Vân Tiên Khoan khoan ngồi đó chớ ra / Nàng là phận
gái ta là phận trai. . . tôi lấm lét giấu mình giữa mấy đám ô rô cóc kèn ven
bờ thay vì huy hoàng xuất hiện để khoát tay bảo ấy sự thường, trước lời cảm
kích vô ngần của người đẹp. Buồn thay, lần ấy, tôi phải rón rén giấu mình
chờ khi người đẹp lui gót mới thập thò chường mặt cứ như là Chử Ðồng Tử vùi
mình trong cát trốn Tiên Dung để trở thành đề tài cho cả trường làm chuyện
cười. Còn buồn hơn cho anh Chử khi Tiên Dung bỏ đi, không thuộc về mình.
Chao ơi! Tiên Dung của Chử và Tiên Dung của tôi đã đi rồi!
Nàng đi thật. Nàng đi quá bất ngờ khiến tôi chưng hửng, sững sờ. Tôi chết
lặng nhìn nàng lên xe hoa với thầy, cái ông thầy dạy Triết đã về trường
chúng tôi từ mấy năm nay và là người thầy mà cả nàng và cả tôi đều ngưỡng
mộ, xem như thần tượng. Thầy có lòng nhưng không bộc lộ, nghiêm cẩn mà không
xa cách. Thầy vui tính nhưng không cợt nhả, tài hoa nhưng không màu mè trình
diễn, thật thà chất phác nhưng không thô kệch, cù lần. Trớ trêu thay, tôi
đau vì mất nàng nhưng lại tán thưởng với chọn lựa của nàng. Và cũng trớ trêu
thay khi tôi thương và kính thầy biết bao nhưng thầy lại giành giật cái
người mà tôi thương thầm biết bao. Thế là, từ nay, những lá thư tình "chất
lại thành non" nhưng chưa dám gởi của tôi sẽ không bao giờ đuợc gởi.
Nàng đi thì tôi cũng đi. Nàng đi thật bất ngờ và xứng đáng thì tôi cũng đi
những bước đi bạo liệt và thật xứng đáng. Tôi từ chối sách đèn, tôi từ chối
trường lớp. Tôi hiên ngang Vứt bút nghiên theo việc binh đao để trở thành
người lính của sông bể quê hương. Nàng sang sông được hai năm thì tôi quay
về bến cũ, Căn cứ Gò Gầu với Giang Ðoàn 40 Ngăn Chặn dưới cây cầu ngày nào
từng hổn hển gò lưng đạp xe đưa nàng hóng gió. Từ đó, trong sắc màu kỷ niệm
của nhịp cầu tôi còn nhìn ra mệnh hệ của quê hương, mệnh hệ của quê hương
nhỏ để từ đó gộp thành một quê hương lớn. Từ duới chân cầu, tôi đã bao lần
lao vào trận địa chặn lối quân thù, đã bao lần kiên nhẫn căng mắt trong đêm
đen dọc theo hai bờ Vàm Cỏ để giữ cho quê hương một giấc ngủ yên. Tôi vững
vàng đi vào trận địa như một chiến binh mà lòng tràn ngập những nôn nào nhớ
tiếc về mối tình đầu dang dở. Tôi mày mò tìm quên trong thơ văn và chia xẻ
cùng những Nguyễn tất Nhiên, Phạm thiên Thư, Nguyên Sa, Từ công Phụng, Vũ
thành An và cả những lời bông lơn xem nhân thế chỉ là sự rong chơi của Bùi
Giáng v.v... Tôi là người lính và tôi là kẻ thất tình. Tôi bình thản đối
diện với thực tại và bay bổng giữa cái huyễn mộng: cái thực ác liệt của lửa
đạn và cái huyễn mộng của văn chương và của tình yêu. Ðời tôi cứ ngỡ sẽ là
sự đan kết giữa thực tại và huyễn mộng ấy nếu tất cả không chìm theo mệnh hệ
chung, mệnh hệ tháng tư đen.
Thoạt đầu là trận đánh mở màn ở Bến Cầu, tấn kích thăm dò ở Trà Cao và bộc
phát dữ dội ở Vên Vên. Kể từ cái Tháng Ba Gãy Súng tang thuơng năm ấy, Gò
Dầu cũng nhuốm mùi tang thương với những trận pháo kích dữ dội và xốn xang
nghe được những tiếng súng kiêu binh của những tay súng chiến thắng Khmer Ðỏ
dội từ Nam Vang dội về. Gò Dầu có thể nhìn thấy những chiếc F5 gầm thét trên
bầu trời trận địa Phước Thạnh hay thót tim, giật nẩy người trước những âm
thanh của hỏa tiển 122 ly từ Rỗng Tượng, tiếng xích sắt của T54 từ Cây
Trường. Gò Dầu ơi ới khóc la giữa đêm khuya pháo kích, Gò Dầu xơ xác, tiêu
điều, Gò Dầu rũ rượi trên từng cành cao su, từng ngọn cau hay tàu dừa, và Gò
Dầu hớt hãi bồng bế nhau chạy giặc.
Buổi trưa 30 tháng tư và những giờ phút cuối cùng không thể nào quên năm ấy
tôi cứ nấn ná giữa cái chung và cái riêng. Vất vả lắm và phải lanh trí lắm
để nhân danh Thầy, đang kẹt ở Sài Gòn vì đường sá bị cắt, tôi mới thuyết
phục nàng khăn gói xuống chiếc tàu chiến đang nung núc quân dân. Ai cũng hồi
hộp và ai cũng nôn nóng. Người ta nôn nóng muốn rời khỏi Gò Dầu đang rung
lên vì đạn pháo địch còn tôi thì nôn nóng tính toán đến việc đưa nàng bay
qua lửa đạn để tìm đến một chân trời góc bể thật xa, càng xa càng tốt, càng
không nguời quen biết càng tốt để nàng sẽ vĩnh viễn là của tôi. Giữa khoảnh
khắc phân chia giữa cái chết và sự sống ấy tôi, như con người muốn giành
giật cái mình đã mất đã tính toán rất nhanh và rất lạnh lùng. Và cũng trong
khoảnh khắc phân chia ấy tôi, như một người lính, cũng lạnh lùng và máy móc
truyền lệnh cho thuộc cấp tách bến và tác xạ bất cứ những gì gây chướng ngại
cho cuộc di tản, thế nhưng tôi đã lờ đi lệnh trên vì không đành lòng đánh
sập cây cầu quê hương. Mệnh hệ quê hương của tôi, lúc này, không chỉ là mệnh
lệnh từ ông tướng ông tá trên cao mà là những gì gần gũi nhất, gắn bó nhất
mà mình không thể ôm đồm cưu mang hết trong khoảnh khắc phân chia giữa hai
phạm trù sống chết. Lúc này, quê hương với tôi không cao xa gì lắm mà chính
là những nông dân lam lũ ở Gò Dầu, ở Trà Cao, ở An Thạnh, ở năm xã Ngũ Long
và thậm chí là những đàn trâu đàn bò ngày nào cũng qua lại trên cầu. Quê
hương của tôi chính là những gánh hàng oằn cong cây đòn gánh trên vai những
cô những dì buôn gánh bán bưng, là những cánh tay nổi gân của bác tài xế xe
lam hay giọt mồ hôi đẫm ướt trên lưng những anh chạy xe lôi... Quê hương của
tôi còn là những em học trò ngày ngày qua cầu đến trường hay chiều chiều lên
cầu hóng gió như tôi ngày nào, còn là những kỷ niệm dấu yêu vẫn hằn dấu gắn
bó với cây cầu. Hồi ấy tôi chỉ mới 25 tuổi thôi, tuổi còn bồng bột dại khờ
và, nghĩ lại thật nhẹ nhõm, tôi đã không máy móc như một người lính mà hành
xử như một người con thật sự của quê hương. Chiếc cầu Gò Dầu vì thế vẫn
nguyên vẹn, vẫn sừng sững, dù rất buồn bã cùng với nỗi buồn tháng tư. Và
tôi, sau khi chỉ huy đoàn tàu vượt qua cửa tử và an toàn cập bến Bến Lức,
cũng đã tiếp tục trọn vẹn cái phần Người bắt đầu lớn dậy. Lòng tôi lắng lại
và tim tôi sáng ra. Tôi bừng tỉnh và tôi thanh thản một cách diệu kỳ khi --
trước lúc tập hợp cùng những đơn vị Hải Quân khác để di tản ra Ðệ thất hạm
đội -- đã dứt khoát từ bỏ ý định mang Nàng đi theo mình để độc chiếm như một
thứ của riêng. Tôi xoay xở, nhờ người đưa Nàng về Sài Gòn trả lại cho Thầy
và cũng chính giờ phút ấy tôi đã thấy được ánh mắt chan chứa niềm vui lẫn sự
biết ơn sâu xa trong đôi mắt nàng, cái đôi mắt từng là nỗi ám ảnh không rời
của tôi suốt thời trai trẻ.
Biệt ly, nhớ nhung từ đây, chiếc lá reo theo heo may, người về có hay... lời
hát đều đều về sự chia cách của Dzoãn Mẫn nghe dài ra, rền rỉ nghe như một
hồi còi tàu và còi tàu cũng đã vọng lên cho giây phút chia cách. Tôi ôm chặt
Nàng và cảm nhận rằng nàng cũng đang ôm ghì lấy tôi, vòng tay ghì nhẹ nhưng
cũng rất ấm áp thiết tha, như thể lơ lửng chút gì đó bàng hoàng tiếc nuối.
Nàng rung người lên khẻ nấc, mắt ướt đẫm. Có phải tim nàng rung lên để làm
cả tôi cũng rung theo trong vòng tay nàng, bần bật? Oâi, cái mối tình đầu
của tôi. Tình ta biết hoá theo từng sát na, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi
lần đầu và cũng là lần cuối, cả năm giác quan của tôi, mà không, cả giác
quan thứ sáu nữa, cảm nhận trọn vẹn sự linh diệu của tình yêu. Bao nhiêu lần
tôi định mở miệng nhưng không thể thốt lên lời? Bao nhiêu lần tôi đã thức
trắng đêm viết thư tình nhưng không dám gởi? Tôi đã chờ bao nhiêu năm rồi,
đã đi vào lửa đạn bạo liệt thế nào để rồi, trớ trêu tay, vào chính giây phút
quê hương hấp hối mới có được phút giây này? Và tôi, từ khoảnh khắc ấy, chợt
hiểu ra rằng, khi mình đã đủ chín chắn để không đành lòng đánh sập cây cầu
quê hương thì cũng không thể nào khốn nạn đến độ phá hỏng mối tình đẹp đẽ và
trong sáng nhất đời mình. Tôi yêu nàng và tôi muốn có nàng nhưng thà tôi mất
nàng như một con người hơn là có nàng như một con thú tật nguyền.
Và cái bi kịch trong câu chuyện tôi kể cùng bạn nằm ngay chính ở chỗ ấy.
Ngay từ cái giây phút tôi thực sự trưởng thành như là một người con thực sự
của quê hương thì tôi biết rằng tôi sẽ mất hết quê hương. Và ngay từ cái
khoảnh khắc tôi cảm nhận được hương vị của mối tình đầu, tôi cũng biết ngay
rằng, từ đó, cái còn lại của mối tình đầu sẽ vĩnh viễn là những hoài niệm
nhớ nhung.
Buổi chiều ngày ba mươi tháng tư là buổi chiều tang thương của đất nước, hay
buổi chiều tang thương của đời tôi?
nguyễnvănthiệu
Sydney, Tháng tư 2005
(để nhớ lại tiếng xích sắt T54 của ba mươi năm trước, đã nghiền nát con tim
người lính)