Bên kia sông Vàm Cỏ
Lê Tấn Tài
Thuở Trời Ðất nỗi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên..."
"Chinh Phụ Ngâm" của Ðoàn Thị Ðiểm
Tình tiết và nhân vật trong chuyện ngắn nầy hoàn toàn là sản phẩm tưởng
tượng, tuy khung cảnh của câu chuyện là miền quê Tây Ninh. Tôi mong gởi
vào đây những tình cảm thắm thiết dành cho miền đất của quê nhà thân
thương.
Hoài có đôi mắt tròn bồ câu, với ánh mắt sáng mà dịu dàng trên khuôn mặt
trắng hồng, làm tăng thêm vẻ đẹp thùy mị, nết na của người thiếu nữ. Nét
đẹp thiên phú, không phấn son, không đài các như các cô gái thị thành,
với sự siêng năng, cần cù, nhẩn nại của Hoài làm cho nàng nỗi bật lên
trong đám thôn nữ. Những đức tánh khiêm cung, nhu mì, hiền thục của
Hoài, với nhan sắc mặn mà của nàng làm cho bao chàng trai trẻ trong làng
để tâm ngắm nghé. Hoài là chị cả trong gia đình đông anh em. Chú thíêm
Ðường có cả thảy 7 người con, 4 trai và 3 gái. Hoài là con lớn, nên sau
khi học xong lớp đệ tứ, chú thiếm Ðường cho nàng đi học may. Nàng mở một
tiệm may nhỏ, nhận may quần áo cho bà con lối xóm, để phụ thêm cho ngân
sách gia đình trong hồi chật vật. Hoài khéo tay, lại chịu khó, nên những
bộ quần áo nàng may đều làm cho khách hàng hài lòng. Tiệm may của Hoài
tuy ở quê, nhưng Hoài có kiến thức và chịu khó, nên những bộ đồ kiểu do
nàng may từ sách mẫu đều làm cho người mặc thoải mái và tăng thêm vẻ
tươi thắm. Công việc may vá giúp cho Hoài kiếm được thêm tiền phụ với
chú thiếm Ðường lo cho các em ăn học.
Gia đình chú thiếm Ðường tưởng cuộc sống êm đềm, tuy có phần vất vả, kéo
dài như thế được lâu dài. Nhưng đất nước Việt Nam chịu cảnh thực dân
Pháp đô hộ độc ác, nhiều phong trào độc lập dân tộc nỗi lên tranh đấu.
Trong những năm đầu của mặt trận Việt Minh, khí thế nhân dân tranh đấu
rất dũng mãnh, mà lực lượng Thanh Niên Tiền Phong của giới trẻ là một
thành phần nồng cốt.
Chương, em trai kế của Hoài, bỏ học, gia nhập Thanh Niên Tiền Phong và
thoát ly gia đình. Ngày Chương ra đi, chú thiếm Ðường gạt nước mắt, tiển
con trai lên đường cứu nước. Chú thiếm Ðường tuy buồn vì xa đứa con yêu
dấu, nhưng vẫn phải tạm gát chuyện tình cảm gia đình để Chương ra đi
không vướng víu, bịn rịn.
Trong những lần sinh hoạt và tổ chức đoàn ngủ hóa thanh niên ở trong xóm
ấp, Chương thỉnh thoảng ghé về thăm nhà. Ấp Trường Ðua, làng Hiệp Ninh
giáp với cánh đồng lúa, trải dài qua con rạch nhỏ, rồi băng qua sông Vàm
Cỏ Ðông đến một cánh đồng lúa nữa thì giáp với làng Thanh Ðiền. Hai làng
Hiệp Ninh và Thanh Ðiền cách nhau ở con sông Vàm Cỏ Ðông, nhưng sự chia
cắt của con sông làm cho dân ở hai làng như cách xa, biệt lập. Ða số dân
làng Thanh Ðiền đều tham gia mặt trận Việt Minh. Những lần Chương cùng
các bạn lén về làng Hiệp Ninh để hoạt động ngắn hạn, rồi sau đó cũng rút
về Thanh Ðiền, băng ngang qua con sông Vàm Cỏ Ðông.
Làng Thanh Ðiền được coi như căn cứ của mặt trận Việt Minh, từ đó, cán
bộ xâm nhập các làng kế cận. Mỗi lần đi công tác, có dịp ghé qua nhà,
Chương thường dẫn về vài người bạn, trong số có Quan là bạn thân của
Chương. Quan cũng đang theo bậc Trung Học, nhưng bỏ học nữa chừng để đi
theo tiếng gọi của Núi Sông. Chàng trai trẻ của Thanh Niên Tiền Phong
vẫn còn dáng dấp thư sinh, trắng trẻo, gió sương chưa nhuộm mái tóc đen
bồng bềnh của chàng thư sinh ngày nào. Mỗi lần sinh hoạt thanh niên,
Quan đều hát những bài ca nhạc cải cách và đàn Mandolin rất hay. Có đêm,
Chương và Quan sau buổi sinh hoạt văn nghệ, về nhà thăm chú thiếm Ðường
và ngủ lại. Tình yêu trai gái nẩy nở giữa Hoài và Quan càng ngày càng
thắm thiết. Sự hiện diện của Quan trong sinh hoạt gia đình của chú thiếm
Dường càng lúc càng gắn bó, thân mật.
Tình yêu của đôi thanh niên, thiếu nữ được sự chấp thuận của gia đình,
chỉ chờ ngày làm lễ thành hôn, nhưng chiến cuộc giữa Pháp Việt càng ngày
càng khốc liệt làm cho tương lai đôi trẻ bị xoáy vào trong cơn lốc của
dân tộc. Chiến tranh Pháp Việt kết thúc bằng Hiệp Ðịnh Genève, chia đôi
Việt Nam.
Hoài làm đám cưới gắp rút với Quan, cho kịp ngày Quan di chuyển đến điểm
tập kết ra Bắc. Ngày vui hôn lễ thật ngắn ngủi. Rượu giao bôi có lẽ chưa
hết hương nồng thì đôi trẻ đã nếm vị ly bôi. Chiếc cổng vu qui làm bằng
hai tàu dừa uốn cong hình bán nguyệt, ở giữa có treo quày đủng đỉnh vẫn
còn đó, ngoài cổng nhà, làm cho cô dâu trẻ ngậm ngùi mỗi lần bắt gặp dấu
tích của tình yêu, của ngày vui đôi lứa quá ngắn ngủi.
Ðêm tiển chân Quan lên đường tập kết, Hoài nhìn chồng, lo lắng rồi ngước
nhìn ra ngoài bầu trời tối đen, xa thẳm, mông lung. Mắt Hoài nhạt nhòe,
đẩm lệ:
- Anh Quan, bao giờ em mới gặp lại anh? Anh đi Bắc, xa quá. Em biết anh
nơi đâu để đi thăm?
- Cắp trên đã cho học tập. Năm sau, bầu cử Hiệp Thương, anh lại về với
em chứ không lâu đâu.
- Chờ anh một năm nữa. Biết có gì chắc không. Em lo quá. Ở nhà, em vò vỏ
trông anh. Cầu Trời Phật phù hộ anh đi đường bình an.
- Anh cũng vậy. Nhớ em lắm. Thương em lắm. Em rán giữ sức khỏe. Chỉ sang
năm là anh sẽ về lại. Em đừng lo nhiều mà có hại cho sức khỏe. Thôi anh
đià
Hoài u buồn, đưa mắt nhìn Quan, lòng xót xa và cảm thấy tủi thân cho
phận gái sanh trong cảnh đất nước điêu linh. Nàng lẩm bẩm mấy câu trong
Chinh Phụ Ngâm học hồi lớp đệ tứ:
"Thuở Trời Ðất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên..."
Quan âu yếm nắm bàn tay trắng, ngón nhỏ, thon ngà của Hoài, hôn nhẹ lên
đôi má còn đẩm lệ, nóng hổi của Hoài rồi xót xa từ giả người vợ trẻ,
bước nhanh vào đêm tối, di băng qua cánh đồng lúa, hướng về làng Thanh
Ðiền. Quan đã đi bao nhiêu lần trên bờ ruộng nầy, nhưng sao lần nầy,
chàng thấy xao xuyến, băn khoăn. Tuy ra vẽ cứng rắn, nói chắc là năm sau
sẽ trở lại với Hoài, nhưng trong lòng chàng đầy vẻ phân vân, lo lắng.
Hưởng tình vợ chồng, chăn gối và không khí êm ấm gia đình ngắn ngủi,
người chiến binh lại bước ra đi, về một nơi vô định nào đó. Rồi tương
lai sẽ ra sao?
Quan lầm lũi bước đi trong đêm tối. Trời cũng như thông cảm với lòng
người. Ðêm nay sao vắng quá. Bầu trời không trăng sao. Cả thiên nhiên
cũng như nhuốm màu ảm đạm. Quan vẫn âm thầm đi về hướng Thanh Ðiền. Ðám
cỏ óng ở ven bờ ruộng vướng vào ống quần Quan kêu sột soạt, làm cho đêm
thêm tỉnh mịch. Quan vượt qua con kinh nhỏ sau chùa Gò Kén, rồi băng qua
cánh đồng lúa, con sông Vàm Cỏ Ðông, tiến về làng Thanh Ðiền. Ðiểm hẹn
của đơn vị Quan ở ven làng Thanh Ðiền. Từ đó, bộ đội tập kết được chuyển
về điểm tập trung để chờ tàu đi Bắcà
Sau những đêm ân ái ngắn ngủi với Quan, Hoài biết rằng nàng đã có giọt
máu của chàng trong người. Bây giờ thì Quan đã đi Bắc, một miền quê
hương xa xôi mà Hoài không nghĩ rằng nàng có thể thông báo cho chàng
biết Quan đã làm cha. Sau những tháng ngày xa vắng chồng và cơn hành hạ
của bào thai, Hoài hạ sanh một bé trai rất kháo khỉnh, giống Quan như
khuôn đúc. Ngày đêm, Hoài vẫn hướng mắt, đăm đăm nhìn về phía quê chồng,
làng Thanh Ðiền, nằm hiền hòa bên bờ sông Vàm Cỏ Ðông, mong ngóng nhận
được tin Quan. Người vợ trẻ vẫn hằng đêm dõi mắt nhìn quãng trời tối
đen, nhớ lại đêm đưa tiển chồng, Quan lầm lũi băng mình trong đêm tối.
Hoài ước mong một phép lạ, đem trả Quan về lại mái ấm gia đình. Nhưng
những năm dài rồi cũng chậm chạp trôi qua. Hoài vẫn một lòng chờ đợi
người xưa, mà người xưa thì vẫn bặt vô âm tín. Không một lá thơ, không
một tin tức gì. Nam, Bắc đã thành hai miền xa lạ trên một đất nước chứa
đầy chia rẽ, hận thù. Không có bầu cử, hiệp thương. Không có tin tức gì
của người chiến binh đi Bắc tập kết. Vẫn biền biệt tin tức của người
yêu, người chồng yêu dấu.
Làng Hiệp Ninh nằm trong vùng Quốc gia kiểm soát, còn phía bên kia sông,
làng Thanh Ðiền thường xuyên có sự hoạt động của những cán bộàViệt Minh
gài ở lại sau ngày tập kết. Vô tình, hai làng Hiệp Ninh và Thanh Ðiền
cách ngăn bởi con sông Vàm Cỏ Ðông, mà cũng như cách ngăn bởi lằn ranh
chính trị giống như hai miền Nam Bắc, cách ngăn bởi con sông Bến Hải.
Tình cảm gia đình bị chia cắt, cách ngăn. Ðêm đêm, Hoài ru đứa con trai
nhỏ, nhìn về quê chồng ở bên kia sông mà mơ tưởng đến một ngày đất nước
thanh bình, mọi ranh giới cách ngăn được dẹp bỏ, để lòng người cùng hòa
chung một nhịp yêu thương và không hận thù, để đứa con thơ dại được âu
yếm nắm tay cả cha lẫn mẹ vui ngày đoàn viên và sung sướng hưởng những
ngày thanh bình trên Quê Hương.
Lê Tấn Tài